Sinh lý bệnh gan nhiễm mỡ
Nhìn chung biểu hiện lâm sàng thường kín đáo và tiến triển thường nhẹ, vì mỡ không phải là chất độc, nó chỉ gây ra tác động cơ học là gan hơi lớn.
Ðịnh nghĩa
Bình thường lượng mỡ trong gan vào khoảng 4 - 6%, chủ yếu là triglycerid. Gọi là gan nhiễm mỡ khi lượng mỡ trong gan trên 13%, trong hầu hết các trường hợp là do tăng tích trữ triglycerid, nếu soi lát cắt gan dưới kính hiển vi thường có thể phát hiện các giọt mỡ bên trong bào tương của tế bào gan. Các giọt mỡ này đẩy nhân tế bào gan ra sát màng tế bào.
Cơ chế
Bình thường triglycerid sau khi được tổng hợp bên trong tế bào gan thì nhanh chóng được vận chuyển ra khỏi gan dưới dạng VLDL. Do vậy có thể chia gan nhiễm mỡ ra làm hai nhóm:
(1) Do tăng tổng hợp triglycerid bên trong tế bào gan.
(2) Do giảm vận chuyển triglycerid ra khỏi gan.
Gan nhiễm mỡ do tăng tổng hợp triglycerid bên trong tế bào gan vượt quá khả năng vận chuyển nó ra khỏi gan
Có thể gặp trong các trường hợp sau:
(1) Tăng các hạt dưỡng chấp do ăn nhiều lipid. Khi ăn nhiều mỡ thì tăng các hạt dưỡng chấp đến gan, trong đó có nhiều acid béo. Dưới tác dụng của lipoprotein lipase trong máu, hạt dưỡng chấp giải phóng nhiều acid béo tự do vào gan. Acid béo được hoạt hóa bên trong tế bào gan thành acyl coenzym A rồi kết hợp với glycerol phosphat thành nhiều triglycerid.
(2) Tăng acid béo tự do trong máu do tăng điều động từ mô mỡ dự trữ trong bệnh đái đường hoặc đói ăn. Trong những trường hợp này có tăng điều động acid béo tự do từ mô mỡ vào máu, từ đó gan tăng thu nhận axit béo tự do rồi chuyển thành nhiều triglycerid.
(3) Chế độ ăn quá giàu calo. Khi chế độ dinh dưỡng quá giàu calo, thì các mẫu acetyl coenzym A thừa không thể chuyển ngược lại thănh acid pyruvic vì phản ứng một chiều, do vậy các mẫu này đi vào con đường tổng hợp acyl coenzym A rồi kết hợp với glycerolphosphat thành triglycerid.
(4) Nghiện rượu. Trong nghiện rượu, ethanol gây tăng NADH tại tế bào gan, từ đó kích thích tổng hợp acid béo dẫn đến tăng tổng hợp triglycerid trong tế bào gan. Nghiện rượu là nguyên nhân thường gặp nhất gây nhiễm mỡ gan tại các nước phương tây.
Gan nhiễm mỡ do giảm vận chuyển triglycerid ra khỏi gan
Sau khi được tổng hợp, triglycerid phải kết hợp với cholesterol, apolipoprotein và phospholipid mới được vận chuyển ra khỏi tế bào gan dưới dạng lipoprotein trọng lượng phân tử rất thấp VLDL.
Sự vận chuyển này có thể bị rối loạn do:
(1) Giảm tổng hợp apolipoprotein trong tế bào gan. Tế bào gan giảm tổng hợp protein do thiếu nguyên liệu như trong suy dinh dưỡng, đặc được biệt thế Kwashiokor ở trẻ em tại các nước kém phát triển, hoặc do tế bào gan bị ngộ độc các chất như tetrachlorocarbon (CCl4), phospho, hoặc do tế bào gan bị ức chế bởi kháng sinh kháng tổng hợp protid như tetracyclin.
(2) Thiếu các yếu tố cần thiết để tạo phospholipid. Yếu tố cần thiết để tạo phospholipid là cholin, methionin (acid amin cung cấp nhóm methyl để tạo cholin), lecithin (chứa cholin). Khi thiếu các yếu tố này thì giảm sự kết hợp phospholipid với triglycerid để vận chuyển ra khỏi gan. Chúng được gọi là các yếu tố hướng mỡ.
Tùy theo nguyên nhân mà biểu hiện lâm sàng và tiến triển khác nhau. Nhìn chung biểu hiện lâm sàng thường kín đáo và tiến triển thường nhẹ, vì mỡ không phải là chất độc, nó chỉ gây ra tác động cơ học là gan hơi lớn. Gan nhiễm mỡ thường có thể hồi phục được nếu loại bỏ được nguyên nhân. Tuy nhiên trong một số trường hợp cấp nặng như do ngộ độc cấp phospho, tetrachlorocarbon thì có thể rối loạn trầm trọng chức năng gan dẫn đến hội chứng não gan (còn gọi là hôn mê gan). Gan nhiễm mỡ mạn tính có thể dẫn đến xơ gan do một số tế bào gan bị chèn ép, hoại tử và bị thay bằng mô xơ.
Hùng John - lớp định hướng nhi đại học y Hà nội - thành viên thongtinthuoc.netCó thể bạn quan tâm
- Thông tin về Bài giảng rối loạn cân bằng Acid Base
- Thông tin về Bài giảng rối loạn cân bằng nước điện giải
- Thông tin về Bài giảng rối loạn chuyển hóa protid
- Thông tin về các chỉ số cơ bản trong rối loạn cân bằng Acid Base
- Thông tin về các thuyết giải thích sự lão hoá
- Thông tin về cân bằng Acid Base và cân bằng Kali
- Thông tin về chu kỳ tế bào và cơ chế sửa sai trong sao chép
- Thông tin về cơ chế bù trừ trong nhiễm Acid Base
- Thông tin về Đại cương rối loạn cân bằng acid base
- Thông tin về Đại cương rối loạn phát triển tổ chức
- Thông tin về Đại cương sinh lý bệnh
- Thông tin về Đại cương sinh lý bệnh cân bằng nước điện giải
- Thông tin về Đại cương sinh lý bệnh lão hóa
- Thông tin về Đại cương về điều hoà thân nhiệt
- Thông tin về Đại cương về viêm
- Thông tin về Định nghĩa bệnh nguyên
- Thông tin về Định nghĩa bệnh sinh
- Thông tin về Mối liên quan giữa ổ viêm và toàn thân
- Thông tin về Một số điểm cần chú ý để hiểu khái niệm bệnh
- Thông tin về Một số quan niệm chưa đầy đủ về bệnh nguyên
- Thông tin về Một số vấn đề quan trọng trong bệnh sinh học
- Thông tin về Nhắc lại sinh lý, sinh hóa glucose máu
- Thông tin về Những kết quả cơ bản nghiên cứu lão học
- Thông tin về Phân loại bệnh nguyên
- Thông tin về Phương pháp nghiên cứu trong sinh lý bệnh
- Thông tin về Quá trình bệnh lý
- Thông tin về Quan niệm khoa học về bệnh nguyên
- Thông tin về Rối loạn cân bằng glucose máu
- Thông tin về Rối loạn thân nhiệt
- Thông tin về Sinh lý bệnh rối loạn chuyển hóa lipid
- Thông tin về Sinh lý bệnh soi sáng công tác dự phòng và điều trị
- Thông tin về Sinh lý bệnh tử vong
- Thông tin về Sinh lý bệnh ung thư
- Thông tin về Sinh lý bệnh về sốt
- Thông tin về Sinh lý bệnh viêm cấp
- Thông tin về Sinh lý bệnh viêm mạn
- Thông tin về Sinh lý và hóa sinh chuyển hóa protid
- Thông tin về Sinh lý và hóa sinh lipid
- Thông tin về Sơ lược sự phát triển về khái niệm bệnh
- Thông tin về Thay đổi trong quá trình lão hoá
- Thông tin về Tuổi già và bệnh tật
- Thông tin về vị trí, tính chất và vai trò của môn sinh lý bệnh
- Thông tin về Ý nghĩa sinh học của viêm