Sinh lý bệnh tử vong
Hoạt động của tim và phổi ngừng hẳn, lúc nầy thần kinh trung ương hoàn toàn bị ức chế do không còn quá trình oxy hóa vì rối loạn enzyme hô hấp.
Đặc điểm của quá trình tử vong
Quá trình tử vong bắt đầu do rối loạn tương hỗ của nhiều chức phận (tuần hoàn, hô hấp, chuyển hóa,...) nhất là rối loạn về các quá trình đồng hóa và dị hóa.
Mối quan hệ tương hỗ nhiều chức phận bình thường được điều hòa bởi hệ thần kinh trung ương cho nên tử vong của cơ thể có liên quan đến sự chết của hệ thần kinh. Tổ chức thần kinh cao cấp (vỏ não) chết trước và sớm hơn tổ chức thần kinh bậc thấp (tủy sống), nói chung bộ phận nào của hệ thần kinh hình thành sớm nhất thì sẽ chết muộn nhất.
Có 2 loại tử vong:
Tử vong sinh lý, thường xảy ra ở người cao tuổi, đó là kết quả của sự lão hóa.
Tử vong bệnh lý là một trong những phương thức kết thúc của bệnh tật.
Tử vong là sự kết thúc của sự sống, nhưng không phải tất cả các cơ quan tổ chức trong cơ thể đều ngưng hoạt động cùng một lúc, vẫn còn một số nào đó tiếp tục hoạt động trong một thời gian nữa, ngắn dài tùy thuộc từng bộ phận. Sau chết ruột vẫn tiếp tục co bóp, móng tay chân và tóc vẫn mọc,...
Các giai đoạn của quá trình tử vong
Giai đoạn ngừng tạm thời
Chức phận tuần hoàn và hô hấp ngừng tạm thời, mất phản xạ mắt, đồng tử.
Quan trọng nhất trong thời kỳ nầy là tình trạng ức chế vỏ não lan đến hành tủy làm cho mọi hoạt động sống bị rối loạn hoàn toàn: Dị hóa mạnh hơn đồng hóa. Thời kỳ nầy kéo dài khoảng 2-4 phút.
Giai đoạn hấp hối
Cơ thể cố đấu tranh chống lại cái chết, hô hấp xuất hiện trở lại nhưng là loại thở chu kỳ (thở cá), tim đập lại nhưng yếu, phản xạ có thể tái xuất hiện và cũng có thể tỉnh lại. Trong thời kỳ này các trung tâm của hành tủy hoạt động đến mức tối đa để duy trì sự sống. Thời kỳ hấp hối kéo dài khoảng vài phút đến nửa giờ.
Giai đoạn chết lâm sàng
Hoạt động của tim và phổi ngừng hẳn, lúc nầy thần kinh trung ương hoàn toàn bị ức chế do không còn quá trình oxy hóa vì rối loạn enzyme hô hấp.
Thời gian chết lâm sàng tùy thuộc:
Tuổi: Tuổi trẻ kéo dài hơn tuổi già do cơ thể trẻ có nhiều dự trữ và khả năng chịu đựng cao hơn.
Nhiệt độ bên ngoài: Nhiệt độ càng thấp, thời gian này càng dài.
Tính chất quá trình tử vong: Chết đột ngột có thời gian chết lâm sàng dài hơn khi chết kéo dài.
Thời gian hấp hối: Thời gian hấp hối ngắn thì thời gian chết lâm sàng dài vì trong khi hấp hối, não phung phí nhiều năng lượng.
Thời gian chết lâm sàng trong điều kiện bình thường kéo dài khoảng 5-6 phút, bắt đầu từ lúc tim phổi ngừng hoạt động cho đến khi não có những tổn thương không hồi phục.
Giai đoạn chết sinh vật
Là giai đoạn cuối cùng của quá trình tử vong khi mọi khả năng hồi phục không còn nữa. Tổn thương chủ yếu vẫn là rối loạn hoạt động thần kinh trung ương. Trong chết sinh vật, không phải mọi cơ quan trong cơ thể cùng chết một lúc mà trước tiên là thần kinh cao cấp, sau đến các chức phận quan trọng như tuần hoàn, hô hấp,...
Vậy, phương pháp cấp cứu - hồi sinh muốn có kết quả phải can thiệp vào giai đoạn hấp hối hoặc giai đoạn chết lâm sàng. Trường hợp chết đột ngột diễn ra trên một cơ thể khoẻ mạnh, có thể cấp cứu hồi sinh được cả trong giai đoạn chết lâm sàng. Nhìn chung thời gian an toàn của não trung bình là 6 phút, trường hợp đặc biệt (mất máu cấp, lạnh) có thể kéo dài hơn. Nếu người chết lâm sàng tỉnh lại sau 6 phút thì có thể có di chứng não nhẹ hoặc nặng, tạm thời hay vĩnh viễn tuỳ trường hợp cụ thể và bệnh lý kèm theo.
Hùng John - lớp định hướng nhi đại học y Hà nội - thành viên thongtinthuoc.netCó thể bạn quan tâm
- Thông tin về Bài giảng rối loạn cân bằng Acid Base
- Thông tin về Bài giảng rối loạn cân bằng nước điện giải
- Thông tin về Bài giảng rối loạn chuyển hóa protid
- Thông tin về các chỉ số cơ bản trong rối loạn cân bằng Acid Base
- Thông tin về các thuyết giải thích sự lão hoá
- Thông tin về cân bằng Acid Base và cân bằng Kali
- Thông tin về chu kỳ tế bào và cơ chế sửa sai trong sao chép
- Thông tin về cơ chế bù trừ trong nhiễm Acid Base
- Thông tin về Đại cương rối loạn cân bằng acid base
- Thông tin về Đại cương rối loạn phát triển tổ chức
- Thông tin về Đại cương sinh lý bệnh
- Thông tin về Đại cương sinh lý bệnh cân bằng nước điện giải
- Thông tin về Đại cương sinh lý bệnh lão hóa
- Thông tin về Đại cương về điều hoà thân nhiệt
- Thông tin về Đại cương về viêm
- Thông tin về Định nghĩa bệnh nguyên
- Thông tin về Định nghĩa bệnh sinh
- Thông tin về Mối liên quan giữa ổ viêm và toàn thân
- Thông tin về Một số điểm cần chú ý để hiểu khái niệm bệnh
- Thông tin về Một số quan niệm chưa đầy đủ về bệnh nguyên
- Thông tin về Một số vấn đề quan trọng trong bệnh sinh học
- Thông tin về Nhắc lại sinh lý, sinh hóa glucose máu
- Thông tin về Những kết quả cơ bản nghiên cứu lão học
- Thông tin về Phân loại bệnh nguyên
- Thông tin về Phương pháp nghiên cứu trong sinh lý bệnh
- Thông tin về Quá trình bệnh lý
- Thông tin về Quan niệm khoa học về bệnh nguyên
- Thông tin về Rối loạn cân bằng glucose máu
- Thông tin về Rối loạn thân nhiệt
- Thông tin về Sinh lý bệnh gan nhiễm mỡ
- Thông tin về Sinh lý bệnh rối loạn chuyển hóa lipid
- Thông tin về Sinh lý bệnh soi sáng công tác dự phòng và điều trị
- Thông tin về Sinh lý bệnh ung thư
- Thông tin về Sinh lý bệnh về sốt
- Thông tin về Sinh lý bệnh viêm cấp
- Thông tin về Sinh lý bệnh viêm mạn
- Thông tin về Sinh lý và hóa sinh chuyển hóa protid
- Thông tin về Sinh lý và hóa sinh lipid
- Thông tin về Sơ lược sự phát triển về khái niệm bệnh
- Thông tin về Thay đổi trong quá trình lão hoá
- Thông tin về Tuổi già và bệnh tật
- Thông tin về vị trí, tính chất và vai trò của môn sinh lý bệnh
- Thông tin về Ý nghĩa sinh học của viêm