Thực hành chẩn đoán và điều trị sốt rét
Plasmodium malariae cũng xuất hiện ở cả những vùng khí hậu nhiệt đới và khí hậu ôn đới, nhưng với mức độ ít hơn so với Plasmodium vivax.
Bệnh sốt rét (malaria) là một bệnh nhiễm ký sinh trùng lây lan qua vật chủ trung gian là muỗi Anophele khi loài muỗi này chích hút máu của người bệnh và sau đó chích vào cơ thể những người khỏe mạnh. Trước đây, sốt rét là một bệnh khá phổ biến ở khắp nơi, nhưng ngày nay thì Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ghi nhận khoảng 100 quốc gia chịu ảnh hưởng đáng kể của bệnh này. Hầu hết là thuộc các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, đặc biệt là các quốc gia Đông Nam Á và một phần châu Phi. Tại Bắc Mỹ, đợt bùng phát cuối cùng của bệnh sốt rét được ghi nhận vào thập niên 1880. Từ đó đến nay, sốt rét không còn là bệnh phổ biến ở vùng này nữa.
Mỗi năm, trên toàn thế giới có khoảng hơn 300 triệu trường hợp mắc bệnh sốt rét được ghi nhận, và trong số này thì có khoảng 1,5 triệu trường hợp tử vong vì sốt rét. Vì thế, nhìn chung thì bệnh sốt rét vẫn còn là một trong những mối lo ngại lớn của toàn nhân loại, đặc biệt là ở các nước chậm phát triển.
Ký sinh trùng gây bệnh sốt rét có thể phát triển khả năng kháng thuốc. Vì thế, việc điều trị ngày càng khó khăn hơn khi các loại thuốc hiệu quả trước đây dần dần không còn tác dụng nữa.
Nguyên nhân
Bệnh sốt rét ở người gây ra do bốn loại ký sinh trùng thuộc chủng Plasmodium:
Plasmodium falciparum là loại phổ biến nhất ở vùng nhiệt đới và lây truyền chủ yếu trong mùa mưa. Đây là loại ký sinh trùng gây bệnh nguy hiểm nhất, chiếm khoảng một nửa số trường hợp mắc bệnh, và chiếm đến 90% số trường hợp tử vong vì bệnh này.
Plasmodium vivax là loại có khả năng lây lan rộng nhất, ở cả những vùng khí hậu nhiệt đới cũng như khí hậu ôn đới.
Plasmodium malariae cũng xuất hiện ở cả những vùng khí hậu nhiệt đới và khí hậu ôn đới, nhưng với mức độ ít hơn so với Plasmodium vivax.
Plasmodium ovale là loại hiếm gặp nhất, chỉ sống được ở vùng nhiệt đới và được tìm thấy chủ yếu ở miền đông châu Phi.
Toàn thế giới có khoảng 390 loại muỗi thuộc chủng Anophele, trong đó có khoảng 60 loại truyền bệnh sốt rét, và thường thì ở mỗi vùng sốt rét chỉ có khoảng một hay hai loại chính làm lây truyền bệnh.
Ký sinh trùng gây bệnh sốt rét trải qua một chu kỳ sinh trưởng khá phức tạp bao gồm một giai đoạn ở muỗi và một giai đoạn ở người:
A. Khi một con muỗi cái Anophele bị nhiễm ký sinh trùng gây bệnh sốt rét, nó sẽ lây nhiễm cho người bị nó chích bằng cách đưa vào máu của người ấy các bào tử (sporozoite) của ký sinh trùng.
B. Các bào tử sau khi vào máu thì theo máu đến cư trú tại gan. Tại đây, chúng sinh sản theo lối vô tính bằng cách tự tách đôi thành 2 tế bào mới dạng amíp tự dưỡng gọi là merozoite.
C. Các merozoite này rời khỏi gan đi vào vòng.
tuần hoàn và bắt đầu xâm nhập vào các tế bào hồng cầu.
D. Trong tế bào hồng cầu, merozoite sinh sản nhanh chóng bằng hình thức phân sinh, làm cho số lượng tăng lên rất nhanh, và cuối cùng chúng làm vỡ tế bào hồng cầu.
E. Khi tế bào hồng cầu vỡ, một số merozoite tiếp tục xâm nhập vào các tế bào hồng cầu khác, trong khi một số khác phát triển trong máu thành các giao bào (gametocyte) có giới tính.
F. Các giao bào giống đực và giao bào giống cái đều sẽ đi vào cơ thể muỗi Anophele khi muỗi chích hút máu người bệnh.
G. Khi đã vào cơ thể muỗi, các giao bào trưởng thành tại đây và bắt đầu sinh sản bằng cách kết hợp giao bào giống cái với giao bào giống đực, tạo thành các hợp tử (zygote).
H. Các hợp tử (zygote) tiếp tục phát triển thành bào tử (sporozoite) và chờ đợi được đưa vào máu người để bắt đầu một chu kỳ sinh sản mới.
Chẩn đoán
Thời gian ủ bệnh thường là khoảng từ 1 – 2 tuần, nhưng cũng có thể kéo dài đến một tháng. Trong trường hợp người nhiễm ký sinh trùng đã dùng thuốc chống sốt rét nhưng không đủ liều để trừ bệnh, thời gian ủ bệnh có thể kéo dài đến một năm.
Triệu chứng tiêu biểu là những cơn rét run xen kẽ với những lần sốt rất cao, có thể trên 400C. Khi các tế bào hồng cầu bị phá vỡ hàng loạt, chúng thải vào trong máu nhiều chất thải, chất độc... Cơ thể phản ứng tạo thành cơn sốt cao. Vì thế, cơn sốt rét bắt đầu bằng cơn lạnh đột ngột, và không bao lâu sau đó là cơn sốt cao, vã mồ hôi và thân nhiệt hạ xuống rất nhanh. Những cơn sốt rét đầu tiên thường xuất hiện xen kẽ nhau trong khoảng 12 giờ. Sau đó, người bệnh hoàn toàn kiệt sức, thường là nằm liệt tại giường.
Những cơn sốt rét nối tiếp nhau dễ dàng dẫn đến tình trạng thiếu máu nghiêm trọng do tốc độ phá vỡ hồng cầu quá nhanh.
Khoảng cách giữa những cơn sốt rét tùy thuộc vào loại ký sinh trùng gây bệnh. Với các loại Plasmodium falciparum, Plasmodium vivax, và Plasmodium ovale, thời gian tiêu biểu là khoảng 2 ngày một lần, có nghĩa là 2 cơn sốt rét cách nhau một ngày, dân gian thường gọi là sốt cách nhật. Với sốt rét gây ra do ký sinh trùng Plasmodium malariae, trung bình khoảng 3 ngày bệnh nhân lại lên cơn sốt rét một lần.
Chẩn đoán xác định nhất thiết phải qua xét nghiệm máu, vừa để xác định bệnh, vừa để xác định chính xác loại ký sinh trùng gây bệnh, mới có cơ sở để điều trị hiệu quả. Trong một số trường hợp, kết quả xét nghiệm có thể phát hiện ký sinh trùng gây bệnh sốt rét ngay cả khi người bệnh chưa xuất hiện bất cứ triệu chứng nào.
Nếu các triệu chứng rất rõ nét nhưng xét nghiệm máu cho kết quả âm tính, cần tiếp tục thực hiện nhiều lần nữa. Mẫu máu được lấy khoảng 6 – 12 giờ một lần, cũng có thể chọn lấy vào lúc bệnh nhân đang sốt cao. Kết quả âm tính ở người bệnh sốt rét thường xuất hiện khi người bệnh đã dùng một loại thuốc điều trị sốt rét nào đó.
Điều trị
Chọn dùng một trong các loại thuốc chống sốt rét như Quinin, Chloroquin, Primaquin, Proguanil, Pyrimetamin... Có thể dùng kết hợp khi có dấu hiệu ký sinh trùng đã đề kháng với một loại thuốc nào đó.
Người bệnh cần được chăm sóc tốt để tránh suy sụp sức khỏe. Các trường hợp bệnh nặng có thể cần được truyền máu.
Một số thuốc chống sốt rét được bào chế bằng cách kết hợp hai hay nhiều loại thuốc trong cùng một viên, có thể tăng thêm hiệu quả điều trị và giảm thấp khả năng bị kháng thuốc, chẳng hạn như Fansidar, Aralen, Camoprim, Metakelfin, Daraclor...
Để việc điều trị đạt hiệu quả, nhất thiết phải dùng đúng và đủ liều. Không được ngừng thuốc khi hết sốt, vì ký sinh trùng vẫn chưa bị tiêu diệt hết, do đó khả năng tái phát cao và càng khó điều trị hơn.
Phương án điều trị dự phòng, nghĩa là dùng thuốc khi chưa nhiễm bệnh, được áp dụng với những người có nguy cơ nhiễm bệnh cao, chẳng hạn như người đi vào vùng sốt rét... Không được dùng thuốc Quinin trong điều trị dự phòng. Các biện pháp phòng ngừa cần được áp dụng triệt để ở những vùng có nhiều nguy cơ nhiễm bệnh, bao gồm:
Diệt muỗi.
Bảo vệ cơ thể không để cho muỗi chích: mặc quần áo dài, ngủ màn (mùng), hun khói vào buổi chiều...
Dùng thuốc chống sốt rét khi có nguy cơ nhiễm bệnh cao.
Hùng John - lớp định hướng nhi đại học y Hà nội - thành viên thongtinthuoc.netCó thể bạn quan tâm
- Thông tin về Bệnh Raynaud và hiện tượng Raynaud
- Thông tin về chảy máu âm đạo ngoài chu kỳ kinh hoặc sau giao hợp
- Thông tin về chảy nước mắt bất thường
- Thông tin về Khái niệm chung về biện pháp tránh thai tự nhiên
- Thông tin về Khái niệm về các biện pháp tránh thai
- Thông tin về Khí hư và các bệnh lây qua đường tình dục
- Thông tin về Kiểm tra sức khỏe tổng quát trẻ sơ sinh
- Thông tin về Kiểm tra sức khỏe tổng quát trẻ từ 6 đến 8 tuần tuổi
- Thông tin về Kiểm tra tiêm chủng cho trẻ em
- Thông tin về Những điều cần biết trước khi mang thai
- Thông tin về dùng bao cao su tránh thai
- Thông tin về dùng màng ngăn âm đạo tránh thai
- Thông tin về Sưng hạch bạch huyết vùng cổ
- Thông tin về Thực hành chăm sóc các vấn đề hô hấp trẻ em
- Thông tin về Thực hành chăm sóc hăm tã trẻ em
- Thông tin về Thực hành chăm sóc sức khỏe trẻ trước tuổi đi học
- Thông tin về Thực hành chăm sóc trẻ ỉa đùn
- Thông tin về Thực hành chăm sóc trẻ khóc nhiều và thất thường
- Thông tin về Thực hành chẩn đoán có thai
- Thông tin về Thực hành chẩn đoán và điều trị ban đỏ nhiễm khuẩn
- Thông tin về Thực hành chẩn đoán và điều trị bệnh chóng mặt
- Thông tin về Thực hành chẩn đoán và điều trị bệnh ở cổ tử cung
- Thông tin về Thực hành chẩn đoán và điều trị bệnh run
- Thông tin về Thực hành chẩn đoán và điều trị bệnh sởi
- Thông tin về Thực hành chẩn đoán và điều trị béo phì
- Thông tin về Thực hành chẩn đoán và điều trị chàm
- Thông tin về Thực hành chẩn đoán và điều trị chân đau cách hồi
- Thông tin về Thực hành chẩn đoán và điều trị chắp mắt
- Thông tin về Thực hành chẩn đoán và điều trị chất tiết từ tai
- Thông tin về Thực hành chẩn đoán và điều trị chấy
- Thông tin về Thực hành chẩn đoán và điều trị chảy máu mũi
- Thông tin về Thực hành chẩn đoán và điều trị chốc
- Thông tin về Thực hành chẩn đoán và điều trị co giật ở trẻ em
- Thông tin về Thực hành chẩn đoán và điều trị cúm
- Thông tin về Thực hành chẩn đoán và điều trị cường giáp
- Thông tin về Thực hành chẩn đoán và điều trị đái dầm
- Thông tin về Thực hành chẩn đoán và điều trị đánh trống ngực
- Thông tin về Thực hành chẩn đoán và điều trị đau bụng kinh
- Thông tin về Thực hành chẩn đoán và điều trị đau đầu
- Thông tin về Thực hành chẩn đoán và điều trị đau họng
- Thông tin về Thực hành chẩn đoán và điều trị đau lưng khi mang thai
- Thông tin về Thực hành chẩn đoán và điều trị đau mặt
- Thông tin về Thực hành chẩn đoán và điều trị đau ngực
- Thông tin về Thực hành chẩn đoán và điều trị đau tai
- Thông tin về Thực hành chẩn đoán và điều trị đau thắt ngực
- Thông tin về Thực hành chẩn đoán và điều trị đau vùng chậu
- Thông tin về Thực hành chẩn đoán và điều trị dị vật vào mắt
- Thông tin về Thực hành chẩn đoán và điều trị điếc
- Thông tin về Thực hành chẩn đoán và điều trị động kinh
- Thông tin về Thực hành chẩn đoán và điều trị đục thủy tinh thể
- Thông tin về Thực hành chẩn đoán và điều trị giảm thị lực
- Thông tin về Thực hành chẩn đoán và điều trị giao hợp đau
- Thông tin về Thực hành chẩn đoán và điều trị glucose niệu khi mang thai
- Thông tin về Thực hành chẩn đoán và điều trị hen phế quản (suyễn)
- Thông tin về Thực hành chẩn đoán và điều trị herpes giác mạc
- Thông tin về Thực hành chẩn đoán và điều trị hiện tượng ruồi bay
- Thông tin về Thực hành chẩn đoán và điều trị HIV, AIDS
- Thông tin về Thực hành chẩn đoán và điều trị ho
- Thông tin về Thực hành chẩn đoán và điều trị ho gà
- Thông tin về Thực hành chẩn đoán và điều trị ho ra máu
- Thông tin về Thực hành chẩn đoán và điều trị hội chứng tiền kinh nguyệt
- Thông tin về Thực hành chẩn đoán và điều trị hôi miệng
- Thông tin về Thực hành chẩn đoán và điều trị ít ham muốn tình dục
- Thông tin về Thực hành chẩn đoán và điều trị khàn tiếng
- Thông tin về Thực hành chẩn đoán và điều trị không đạt cực khoái
- Thông tin về Thực hành chẩn đoán và điều trị lác mắt
- Thông tin về Thực hành chẩn đoán và điều trị lạc nội mạc tử cung
- Thông tin về Thực hành chẩn đoán và điều trị lang ben
- Thông tin về Thực hành chẩn đoán và điều trị lẹo mắt
- Thông tin về Thực hành chẩn đoán và điều trị liệt bell
- Thông tin về Thực hành chẩn đoán và điều trị liệt dương
- Thông tin về Thực hành chẩn đoán và điều trị loét đường tiêu hóa
- Thông tin về Thực hành chẩn đoán và điều trị mãn kinh
- Thông tin về Thực hành chẩn đoán và điều trị mắt đau không đỏ
- Thông tin về Thực hành chẩn đoán và điều trị mắt khô
- Thông tin về Thực hành chẩn đoán và điều trị mất ngủ
- Thông tin về Thực hành chẩn đoán và điều trị mỏng giác mạc
- Thông tin về Thực hành chẩn đoán và điều trị mụn cóc
- Thông tin về Thực hành chẩn đoán và điều trị mụn rộp ở môi
- Thông tin về Thực hành chẩn đoán và điều trị mụn trứng cá
- Thông tin về Thực hành chẩn đoán và điều trị nấm candida
- Thông tin về Thực hành chẩn đoán và điều trị nghẹt mũi
- Thông tin về Thực hành chẩn đoán và điều trị ngứa da
- Thông tin về Thực hành chẩn đoán và điều trị ngứa hậu môn
- Thông tin về Thực hành chẩn đoán và điều trị nhiễm khuẩn tiết niệu
- Thông tin về Thực hành chẩn đoán và điều trị nhiễm trùng hô hấp trên
- Thông tin về Thực hành chẩn đoán và điều trị nhồi máu cơ tim
- Thông tin về Thực hành chẩn đoán và điều trị nhọt
- Thông tin về Thực hành chẩn đoán và điều trị nhược giáp
- Thông tin về Thực hành chẩn đoán và điều trị nôn khi mang thai
- Thông tin về Thực hành chẩn đoán và điều trị nứt hậu môn
- Thông tin về Thực hành chẩn đoán và điều trị ợ nóng khi mang thai
- Thông tin về Thực hành chẩn đoán và điều trị Parkinson
- Thông tin về Thực hành chẩn đoán và điều trị protein niệu khi mang thai
- Thông tin về Thực hành chẩn đoán và điều trị quai bị
- Thông tin về Thực hành chẩn đoán và điều trị ra máu sau khi sinh
- Thông tin về Thực hành chẩn đoán và điều trị rậm lông
- Thông tin về Thực hành chẩn đoán và điều trị RH âm khi mang thai
- Thông tin về Thực hành chẩn đoán và điều trị rối loạn tiêu hóa
- Thông tin về Thực hành chẩn đoán và điều trị rong kinh
- Thông tin về Thực hành chẩn đoán và điều trị Rubella
- Thông tin về Thực hành chẩn đoán và điều trị rụng tóc
- Thông tin về Thực hành chẩn đoán và điều trị sỏi tiết niệu
- Thông tin về Thực hành chẩn đoán và điều trị sốt sau sinh
- Thông tin về Thực hành chẩn đoán và điều trị suy tim
- Thông tin về Thực hành chẩn đoán và điều trị tai biến mạch não
- Thông tin về Thực hành chẩn đoán và điều trị tăng bạch cầu đơn nhân nhiễm khuẩn
- Thông tin về Thực hành chẩn đoán và điều trị tăng huyết áp
- Thông tin về Thực hành chẩn đoán và điều trị tăng lipid máu
- Thông tin về Thực hành chẩn đoán và điều trị tăng nhãn áp
- Thông tin về Thực hành chẩn đoán và điều trị táo bón
- Thông tin về Thực hành chẩn đoán và điều trị thai nhi ngôi lệch đầu cao
- Thông tin về Thực hành chẩn đoán và điều trị thiếu máu
- Thông tin về Thực hành chẩn đoán và điều trị thiếu máu khi mang thai
- Thông tin về Thực hành chẩn đoán và điều trị thủy đậu
- Thông tin về Thực hành chẩn đoán và điều trị tiền sản giật
- Thông tin về Thực hành chẩn đoán và điều trị tiêu chảy
- Thông tin về Thực hành chẩn đoán và điều trị tiểu đường
- Thông tin về Thực hành chẩn đoán và điều trị tiểu không tự chủ
- Thông tin về Thực hành chẩn đoán và điều trị tinh hồng nhiệt
- Thông tin về Thực hành chẩn đoán và điều trị trầm cảm sau sinh
- Thông tin về Thực hành chẩn đoán và điều trị ù tai
- Thông tin về Thực hành chẩn đoán và điều trị vàng da trẻ sơ sinh
- Thông tin về Thực hành chẩn đoán và điều trị vảy nến
- Thông tin về Thực hành chẩn đoán và điều trị viêm gan A
- Thông tin về Thực hành chẩn đoán và điều trị viêm gan B
- Thông tin về Thực hành chẩn đoán và điều trị viêm gan C
- Thông tin về Thực hành chẩn đoán và điều trị viêm giác mạc
- Thông tin về Thực hành chẩn đoán và điều trị viêm màng não
- Thông tin về Thực hành chẩn đoán và điều trị viêm mí mắt
- Thông tin về Thực hành chẩn đoán và điều trị viêm mũi dị ứng
- Thông tin về Thực hành chẩn đoán và điều trị viêm phổi
- Thông tin về Thực hành chẩn đoán và điều trị viêm thực quản hồi lưu
- Thông tin về Thực hành chẩn đoán và điều trị vô kinh
- Thông tin về Thực hành chẩn đoán và điều trị vô sinh
- Thông tin về Thực hành chẩn đoán và điều trị xơ vữa động mạch
- Thông tin về Thực hành chẩn đoán và điều trị xuất huyết dưới kết mạc
- Thông tin về Thực hành chẩn đoán và điều trị xuất huyết trong thai kỳ
- Thông tin về Thực hành chẩn đoán và điều trị xuất tinh sớm
- Thông tin về Thực hành chẩn đoán và điều trị zona
- Thông tin về Thực hành cho trẻ ăn dặm và cai sữa
- Thông tin về Thực hành dụng cụ tránh thai đặt trong tử cung
- Thông tin về Thực hành khám thai định kỳ
- Thông tin về Thực hành kiểm tra sau sinh
- Thông tin về Thực hành liệu pháp thay thế hormon (HRT)
- Thông tin về Thực hành những vấn đề khi cho con bú
- Thông tin về Thực hành nuôi con bằng sữa bình
- Thông tin về Thực hành nuôi con bằng sữa mẹ
- Thông tin về Thực hành phát hiện sớm ung thư vú
- Thông tin về Thực hành tránh thai sau giao hợp
- Thông tin về Thuốc tránh thai dạng tiêm và cấy dưới da
- Thông tin về Tránh thai bằng thuốc diệt tinh trùng
- Thông tin về Tránh thai bằng tính vòng kinh
- Thông tin về Tránh thai bằng xuất tinh ngoài âm đạo
- Thông tin về Tránh thai đối với phụ nữ sắp mãn kinh
- Thông tin về Tranh thai đối với phụ nữ sau sinh
- Thông tin về Triệt sản kế hoạch hóa gia đình
- Thông tin về viên uống tránh thai đơn thuần
- Thông tin về viên uống tránh thai kết hợp