Thuốc điều trị tại chỗ vết bỏng
Khám vết bỏng hàng ngày là công việc thường xuyên của bác sỹ điều trị bỏng để bổ xung chẩn đoán độ sâu của bỏng và chỉ định thuốc điều trị tại chỗ và toàn thân phù hợp.
Đại cương
Tổn thương bỏng là nguồn gốc gây ra mọi rối loạn bệnh lý trong bệnh bỏng.
Dùng thuốc điều trị tại chỗ tổn thương bỏng nhằm hạn chế hoặc cắt bỏ yếu tố bệnh lý này.
Thuốc điều trị tại chỗ vết bỏng gồm các nhóm thuốc:
Thuốc kháng khuẩn vết thương bỏng.
Thuốc làm rụng hoại tử bỏng.
Thuốc kích thích tái tạo vết bỏng.
Thuốc làm se khô và tạo màng che phủ vết bỏng.
Trong điều trị bỏng hiện đại, việc dùng các vật liệu thay thế da đang là một vấn đề được cả thế giới quan tâm.
Khám vết bỏng hàng ngày là công việc thường xuyên của bác sỹ điều trị bỏng để bổ xung chẩn đoán độ sâu của bỏng và chỉ định thuốc điều trị tại chỗ và toàn thân phù hợp.
Các thuốc điều trị tại chỗ vết bỏng
Thuốc ức chế vi khuẩn vết thương bỏng
Yêu cầu của một thuốc kháng khuẩn vết bỏng:
Có tác dụng với các vi khuẩn gây nhiễm khuẩn vết bỏng với tỷ lệ kháng thuốc thấp nhất.
Không hoặc ít gây hại cho mô lành và tế bào lành.
Không hoặc ít có tác dụng phụ.
Thấm sâu vào các mô.
Cream Silver sulfadiazine 1%
Đặc tính và tác dụng: Là sự kết hợp của bạc (Ag) với một sulfamide. Được sản xuất từ 1960, dưới dạng cream nồng độ 1% màu trắng không tan trong nước. Đây là một thuốc kháng khuẩn dùng tại chỗ vết bỏng khá thông dụng hiện nay.
Thuốc ít hoặc không gây đau.
Thuốc ít thấm sâu vào hoại tử.
Thuốc có phổ kháng khuẩn rộng với nhiều loại vi khuẩn như S.aureus, E.coli, Klebsiella, P.aeruginosa, Proteus, Enterobacteraceae và cả C.albicans.
Chỉ định:
Điều trị vết thương bỏng nông và sâu.
Chống chỉ định:
Sau mổ ghép da.
Phụ nữ có thai những tháng cuối, trẻ sơ sinh (vì gây vàng da).
Dị ứng với các thành phần của thuốc.
Cách dùng:
Thuốc được dùng đắp vào vết thương bỏng mới (sau khi đã được xử trí vết thương kỳ đầu tốt) có thể đắp trực tiếp thuốc lên vết thương hoặc tẩm vào gạc.
Thay băng ngày một lần hoặc hai lần.
Tác dụng phụ:
Silver sulfadiazine 1% (SSD 1%) có thể gây giảm bạch cầu . Dấu hiệu này xảy ra thường sau 2-3 ngày dùng thuốc khi đắp diện tích rộng. Triệu chứng này thường gặp từ 5-15% bệnh nhân.
Một số biệt dược thường gặp:
Silvadene (Hoa kỳ).
Flammazin (Pháp).
Silvin (Pakistan).
Silvirin (ấn độ).
Sulfadiazin bạc (Xí nghiệp dược phẩm TW Huế).
Axit Boric
Đây là một axit yếu, thuốc được dùng dưới dạng dung dịch 3% hoặc dạng bột tinh thể màu trắng , đóng gói 10 gam.
Axit boric có tác dụng ức chế sự phát triển của trực khuẩn mủ xanh.
Chỉ định:
Điều trị vết thương nhiễm trực khuẩn mủ xanh.
dùng để trung hoà vết bỏng do vôi tôi nóng.
Chống chỉ định: Các loại bỏng khác.
Cách dùng: Tẩm thuốc vào gạc đắp lên những vùng vết thương có nhiễm trực khuẩn mủ xanh, tẩm thuốc vào gạc đắp lên vết thương bỏng vôi, chỉ đắp diện tích khoảng 10%.
Chú ý Khi sử dụng: Không dùng ở diện tích quá rộng vì có nguy cơ thuốc gây nhiễm toan chuyển hoá.
Dung dịch Nitrat bạc (AgNO3)
Đặc tính: Thuốc có tác dụng diệt trực khuẩn mủ xanh, thuốc ít gây dị ứng.
Chỉ định: Những vết bỏng nhiễm trực khuẩn mủ xanh.
Chống chỉ định: Những vết bỏng khác.
Cách dùng: Tẩm thuốc vào gạc, đắp vào những vùng nhiễm trực khuẩn mủ xanh.
Dạng thuốc: Dung dịch 0,5%; 0,25% đóng trong chai màu. Nhược điểm của thuốc là đắp tốn gạc, gây đen đồ vải.
Chú ý Khi sử dụng: Chỉ đắp với diện tích dưới 10% diện tích cơ thể vì thuốc gây hạ natri và clo máu, gây kiềm chuyển hoá và methemoglobin
Mỡ Maduxin
Đặc điểm và tác dụng: Maduxin (Madhuxin) là thuốc dạng mỡ màu nâu đen được nấu từ lá của cây sến (Madhuca pasquieri – Dubard H. Sapotaceae). Maduxin oil là cao của lá sến , dầu hạt sến và vaselin. Maduxin được nghiên cứu bào chế từ 1990-1995 (Lê Thế Trung, Nguyễn Liêm, Trần Xuân Vận). Đây là thuốc chữa nhiễm khuẩn vết bỏng có hiệu quả. Thuốc có tác dụng với tụ cầu vàng, trực khuẩn mủ xanh. E.coli, Proteus...
Gạc tẩm thuốc đắp vào vết thương làm giảm tiết dịch, giảm mùi hôi. Thuốc kích thích biểu mô hóa ở bỏng nông và tạo mô hạt ở bỏng sâu. Thuốc có tác dụng tốt với bỏng vôi.
Chỉ định: điều trị vết bỏng nông, bỏng sâu và bỏng vôi.
Chống chỉ định: Sau mổ ghép da.
Cách dùng: Sau khi làm sạch vết thương, tẩm thuốc vào gạc, đắp lên vết thương, thay băng ngày một lần hoặc ngày hai lần.
Nhược điểm: Thuốc thường gây đau cho bệnh nhân và làm đen vải trải.
II.2. Thuốc làm rụng hoại tử bỏng:
Có bản chất là các men tiêu huỷ protein có nguồn gốc từ hoá chất,động vật, thực vật và vi sinh vật.
Từ hoá chất (các axit yếu): mỡ Axit salyxilic 40%.
Chỉ định và cách dùng:
Dùng ở hoại tử khô từ tuần thứ hai sau bỏng.
Diện tích dùng một lần dưới 10% diện tích cơ thể.
Đắp thuốc trực tiếp lên hoại tử, dùng thuốc cách ngày (Bôi thuốc dày khoảng 1mm).
Chống chỉ định.
Hoại tử ướt.
Trạng thái toàn thân nặng (Suy tim mach, suy hô hấp...) vì dùng thuốc thời gian kéo dài có thể gây nhiễm toan chuyển hoá.
Nguồn gốc động vật: Các men Trypsin, pepsin, chymotrypsin..
Từ thực vật: men papain (từ mủ quả đu đủ), bromelain (từ quả dứa) có tác dụng làm tiêu sợi tơ huyết và ức chế đông vón tiểu cầu
Từ vi sinh vật: các men do vi khuẩn tiết ra như Streptokinaza (do liên cầu khuẩn tiết ra), Subtilain (do Bacillus subtilistiết ra). Chế phẩm Travase đã từng được áp dụng trên lâm sàng có kết quả tốt.
Thuốc kích thích tái tạo vết bỏng (kích thích biểu mô và tạo mô hạt)
Trong nhóm thuốc này có nhiều loại thuốc như:
Các thuốc mỡ: Dầu gan cá thu, dầu gấc (Bản chất là các vitamin A,D).
Thuốc mỡ chế từ rau má, madecasol.
Thuốc kem nghệ.
Thuốc Dampommade (mỡ cao vàng) , đây là bài thuốc thừa kế của sư cụ Đàm Lương ở Chùa Trắng. Thành phần gồm có: Hồng đơn, sáp ong, mật đà tăng, dầu luyn....
Chỉ định: - Sau mổ ghép da 5-7 ngày.
Vết bỏng chậm liền, vết loét lâu liền diện tích hẹp.
Chống chỉ định: Diện tích rộng (vì trong thành phần có chì), mỗi lần chỉ đắp dưới 5% diện tích cơ thể.
Cách dùng: Tẩm thuốc vào gạc đắp vào vết thương có tác dụng kích thích biểu mô hoá ở những vùng có mô hạt diện tích hẹp và được dùng ở những vết loét lâu liền. Thay băng ngày một lần , hoặc thay băng cách ngày.
Thuốc tạo màng che phủ vết bỏng (Thuốc tạo màng)
Thành phần của thuốc có tanin có tác dụng làm đông dịch vết thương, kết tủa protein, liên kết các tơ collagene tạo thành một màng.
Một số thuốc nam có tác dụng làm se khô và tạo màng thuốc như cao đặc lá sim cao kháo nhậm, cao kháo vàng, hu đay, cao lá tràm, chè dây... và đặc biệt là thuốc bỏng chế từ vỏ cây xoan trà.
Cao đặc vỏ cây xoan trà có tỷ trọng d:1,22-1,24, độ nhớt n=5,36 poises, pH:7, Tanin:32,1%, gôm nhựa 14%, flavon 5,4%, dầu béo 1,37%...
Dạng thuốc bột khô, màu nâu , tan nhanh trong nước nóng (thuốc bột B76)
Chỉ định: Dùng cho bỏng mới, bỏng nông, vết bỏng chưa nhiễm khuẩn
Chống chỉ định:
Bỏng sâu.
Vết bỏng đã nhiễm khuẩn hoặc ô nhiễm nặng.
Bỏng vùng khớp.
Bỏng vùng mặt cổ, tầng sinh môn, sinh dục.
Bỏng do vôi tôi nóng:
Cách dùng: Bột B76 được rắc lên vết bỏng sau khi đã được xử lý vô khuẩn kỳ đầu vết thương, cắt vòm nốt phỏng, bỏng chi thể không bôi kín chu vi, bôi mặt trước, mặt sau chi thể.
Chú ý: Thuốc gây đau xót trong 15-30 phút sau khi phun thuốc , do đó phải giảm đau tốt cho người bệnh.
Theo dõi sau đắp thuốc:
Sấy khô bằng đèn hoặc bằng máy sấy.
Rạch màng thuốc khi có dấu hiệu: phù nề, trèn ép tuần hoàn đầu chi hoặc có mủ ở dưới màng thuốc.
Nếu tiến triển tốt, 10-15 ngày màng thuốc tự bong và vết bỏng liền.
A.D lớp YTCC - K4 Y thái bìnhCó thể bạn quan tâm
- Thông tin về Bệnh học bỏng điện
- Thông tin về Bệnh học bỏng hóa chất
- Thông tin về Bệnh học bỏng trẻ em
- Thông tin về Bệnh học ngoại chấn thương cột sống
- Thông tin về Bệnh học ngoại chấn thương mạch máu ngoại biên
- Thông tin về Bệnh học ngoại chấn thương ngực kín
- Thông tin về Bệnh học ngoại chấn thương niệu đạo
- Thông tin về Bệnh học ngoại chấn thương sọ não kín
- Thông tin về Bệnh học ngoại chấn thương thận
- Thông tin về Bệnh học ngoại dị dạng bẩm sinh vùng rốn
- Thông tin về Bệnh học ngoại dị dạng hậu môn trực tràng
- Thông tin về Bệnh học ngoại gẫy cổ xương đùi
- Thông tin về Bệnh học ngoại gẫy hai xương cẳng tay
- Thông tin về Bệnh học ngoại gãy thân xương cánh tay
- Thông tin về Bệnh học ngoại gẫy thân xương đùi
- Thông tin về Bệnh học ngoại gãy trên lồi cầu xương cánh tay
- Thông tin về Bệnh học ngoại gẫy xương cẳng chân
- Thông tin về Bệnh học ngoại gẫy xương hở
- Thông tin về Bệnh học ngoại khoa áp xe gan amip
- Thông tin về Bệnh học ngoại khoa bỏng
- Thông tin về Bệnh học ngoại khoa chấn thương bụng kín
- Thông tin về Bệnh học ngoại khoa hẹp môn vị
- Thông tin về Bệnh học ngoại khoa phi đại hẹp môn vị
- Thông tin về Bệnh học ngoại khoa sỏi ống mật chủ
- Thông tin về Bệnh học ngoại khoa tắc ruột
- Thông tin về Bệnh học ngoại khoa teo thực quản
- Thông tin về Bệnh học ngoại khoa thoát vị bẹn
- Thông tin về Bệnh học ngoại khoa thoát vị cơ hoành bẩm sinh
- Thông tin về Bệnh học ngoại khoa thoát vị đùi
- Thông tin về Bệnh học ngoại khoa thủng dạ dày tá tràng
- Thông tin về Bệnh học ngoại khoa ung thư dạ dày
- Thông tin về Bệnh học ngoại khoa ung thư đại tràng
- Thông tin về Bệnh học ngoại khoa ung thư gan
- Thông tin về Bệnh học ngoại khoa ung thư thực quản
- Thông tin về Bệnh học ngoại khoa ung thư trực tràng
- Thông tin về Bệnh học ngoại khoa vết thương thấu bụng
- Thông tin về Bệnh học ngoại khoa viêm ruột thừa cấp
- Thông tin về Bệnh học ngoại khoa xuất huyết tiêu hóa
- Thông tin về Bệnh học ngoại lao xương
- Thông tin về Bệnh học ngoại lồng ruột cấp ở trẻ còn bú
- Thông tin về Bệnh học ngoại nhiễm khuẩn tiết niệu
- Thông tin về Bệnh học ngoại ống phúc tinh mạc
- Thông tin về Bệnh học ngoại phình đại tràng bẩm sinh (Hirschsprung)
- Thông tin về Bệnh học ngoại phình động mạch ngoại biên
- Thông tin về Bệnh học ngoại sỏi hệ tiết niệu
- Thông tin về Bệnh học ngoại tắc động mạch cấp tính ở chi
- Thông tin về Bệnh học ngoại tắc ruột sơ sinh
- Thông tin về Bệnh học ngoại teo đướng mật bẩm sinh
- Thông tin về Bệnh học ngoại thông động tĩnh mạch
- Thông tin về Bệnh học ngoại trật khớp háng
- Thông tin về Bệnh học ngoại trật khớp khuỷu
- Thông tin về Bệnh học ngoại trật khớp vai
- Thông tin về Bệnh học ngoại u não
- Thông tin về Bệnh học ngoại u trung thất
- Thông tin về Bệnh học ngoại u xơ tiền liệt tuyến
- Thông tin về Bệnh học ngoại u xương
- Thông tin về Bệnh học ngoại ung thư bàng quang
- Thông tin về Bệnh học ngoại ung thư phổi
- Thông tin về Bệnh học ngoại ung thư thận
- Thông tin về Bệnh học ngoại vết thương ngực
- Thông tin về Bệnh học ngoại vết thương sọ não hở
- Thông tin về Bệnh học ngoại viêm màng ngoài tim co thắt
- Thông tin về Bệnh học ngoại viêm xương
- Thông tin về Bệnh học ngoại xơ vữa động mạch
- Thông tin về Bỏng chiến tranh
- Thông tin về chẩn đoán diện tích bỏng
- Thông tin về chẩn đoán độ sâu của tổn thương bỏng
- Thông tin về công tác thay băng điều trị bỏng
- Thông tin về Dấu hiệu triệu chúng lâm sàng sốc bỏng
- Thông tin về Điều trị sốc do bỏng
- Thông tin về hội chứng Dumping trong phẫu thuật dạ dày
- Thông tin về Lâm sàng và điều trị thời kỳ suy mòn của bệnh bỏng
- Thông tin về Phẫu thuật điều trị bỏng
- Thông tin về dùng các loại da và vật liệu thay thế da trong bỏng
- Thông tin về Xử trí thời kỳ đầu vết thương bỏng