Khám vận động
Việc thăm khám vận động và cơ lực của từng đoạn chỉ cho phép phát hiện tình trạng liệt, không những về cường độ liệt, mà còn ở địa điểm liệt.
Khám vận động tự chủ
Một số nghiệm pháp
Người bệnh có thể ở nhiều tư thế: Ngồi, đứng, nằm… Ở đây ta chỉ thăm khámkhi người bệnh ở tư thế nằm.
Hướng dẫn người bệnh làm một số nghiệm pháp thông thường, đồng thời hai bên, để so sánh.
Chi trên: Nắm xoè bàn tay; gấp duỗi cẳng tay; giơ cánh tay lên trên, sang ngang.
Chi dưới: Co duỗi ngón chân; Gấp duỗi cẳng chân; Nhắc chân lên khỏi giường.
Tìm cơ lực:
Trong khi người bệnh làm những động tác thông thường kể trên, thầy thuốc lần lượt chống lại từng loại. Như vậy có thể đánh giá được cơ lực của từng nhóm cơ.
Nghiệm pháp Barré:
Chi trên: Người bệnh nằm ngửa, giơ thẳng hai tay tạo một góc 60 độ với mặt giường. Bên nào liệt sẽ rơi xuống trước.
Chi dưới: Người bệnh nằm sấp. Cẳng chân người bệnh để 45 độ với mặt giường. Bên nào liệt sẽ rơi xuống trước.
Nghiệm pháp Mingazzini:
Áp dụng cho chi ưới. Người bệnh nằm ngửahai chân giơ lên, cẳng chân thẳng góc với đùi, đùi thẳng góc với mặt giường. Bên nào liệt chân đó rơi xuống trước.
Đánh giá kết quả
Việc thăm khám vận động và cơ lực của từng đoạn chỉ cho phép phát hiện tình trạngliệt, không những về cường độ liệt, mà còn ở địa điểm liệt.
Cường độ:
Có thể liệt hoàn toà, không làm được những động tác thông thường. Có thể chỉ liệt nhẹ, vẫn làm được những động tác nhưng không lâu và yếu. Lúc đó cần phải so sánh kỹ hai bên và loại trừ nguyên nhân của động tác yếu là do teo cơ hay khớp làm hạn chế cử động.
Khu trú địa điểm:
Tuỳ theo địa điểm tổn thương thần kinh, liệt có thể khu trú hay lan toả. Do vậy xác định được địa điểm liệtcũng có nghĩa là xác định được vị trí tổn thương thần kinh. Ví dụ:
Địa điểm thân thần kinh: Khi liệt vận động cả một nhóm cơ chi phối bởi một dây thần kinh sọ não hay thần kinh tuỷ, nói chung ta có thể cho là tổn thương ở thần kinh ngoại biên. Đó là trường hợp của liệt mặt thể ngoại biên, liệt thần kinh quay, thần kinh giữa…
Địa điểm rễ thần kinh: Khi liệt vận động một nhóm cơ ở đúng vùng chi phối bởi một hay nhiều rễ tuỷ trước, ta có thể kết luận là tổn thương hoặc ở rễ, hoặc ở thần kinh tuỷ, hoặc ở sừng trước tuỷ sống. Thí dụ ở chi trên, khi liệt rễ trên do tổn thương ở C5 - C6, các cơ delta, nhị đầu, cánh tay trước và cơ sấp dài sẽ không vận động được (liệt kiểu Duchenne).
Liệt một chi: Liệt toàn bộ một chi thường do tổn thương các rễ tuỷ hay là sừng trước, rất ít khi do tổn thương do tổn thương một vùng giới hạn của võ não.
Liệt nửa thân: Do tổn thương não bên đối diện với liệt (sẽ có bài riêng).
Liệt hai chi dưới: Thường do tổn thương ở tuỷ, do tổn thương hai bên rễ tuỷ hay do tổn thương thần kinh ngoại biên, rất ít khi do tổn thương cả hai bên bán cầu não (có bài riêng).
Trong mọi trường hợp liệt, điều quan trọng bậc nhất là cần xác địnhnguyên nhân làở trung ương hay ngoại biên.
Nhiều khi xác định tương đối dễ: Liệt thân hay rễ thần kinh là do tổn thươngngoại biên, liệt nửa thân chắc chắn là do tổn thương trung ương. Trường hợp nghi ngờ như khi liệt hai chi, người ta thường dựa vào những tiêu chuẩn sau đây để phân biệt:
Liệt ngoại biên thường là liệt mềm, phản xạ xương giảm, có teo cơ và có phản ứng thoái hoá điện.
Liệt trung ươngcó thể là liệt nằm, nhưng về sauthường tiến triển đến liệt cứng, phản xạ gân xương tăng và thườngkèm theo dấu hiệu Babinski
Khám trương lực
Một số nghiệm pháp khám
Thường làm ở các chi. Người bệnh để chi được thăm khám hoàn toàn thụ động, không lên gân.
Chi trên: Người bệnh vòng tay qua cổ và đặt lòng bàn tay vào vùng xương bả vai cùng bên.
Chi dưới: Lấy gót chân đặt vào mông cùng bên.
Thầy thuốc cầm cổ chân, cổ tay người bệnh, lắc mạnh để tìm độ ve vẫy của bàn chân, bàn tay người bệnh.
Hoặc thầy thuốc lắc cả thân người bệnh quay phải quay trái và xembiên độ vung hai tay người bệnh.
Đánh giá kết quả
Ở người bình thường có một sự đề kháng nhỏ khi người bệnh làm những động tác thụ động trên.
Khi đề kháng của các cơ tăng, các động tác trên bị hạn chế, ta gọi là tăng trương lực cơ. Lúc đó các cơ thường rắn hơn bình thường, mặc dù lúc nghỉ ngơi không hoạt động.
Khi đề kháng giảm, bàn tay có thể với tới vùng xương bả vai cùng bên hoặc gót chân chạm mông cùng bên, ta gọi là trương lực cơ giảm. Lúc đó các cơ thường nhẽo.
Ta lần lượt nghiên cứu giá trị triệu chứngcả hai trường hợp bệnh lý trên.
Trương lực cơ tăng:
Có thể kèm theo hoặc không kèm theo liệt.
Trương lực cơ tăng không kèm theo liệt là một triệu chứng của liệt trung ương, nghĩa là có tổn thương bó tháp. Trường hợp này còn gọi là co cứng tháp, điển hình nhất là khi liệt cứng nửa người.
Trương lực cơ tăng không kèm theo liệt: Là một triệu chứng của tổn thương ngoài bó tháp. Đó là co cứng ngoài tháp mà tiêu biểu là bệnh Parkinson.
Trương lực cơ giảm:
Cũng như trường hợp trương lực cơ tăng, ở dây cũng có hai loại: Có hoặc không kèm theo liệt
Trương lực cơ giảm có kèm theo liệt, gọi là liệt mềm. Đó là tất cả các trường hợp liệt ngoại biên và một số trường hợp liệt trung ương.
Trương lực cơ giảm không kèm theo liệt: đặc biệt gặp trong các tổn thương các đường cảm giác sâu: Tổn thương thần kinh cảm giác, các rễ sau, các sừng sau tuỷ sống (bệnh tebet). Cũng gặp trong các hội chứng tiểu não.
Khám phối hợp động tác và thăng bằng
Tất cả các động tác của người ta, dù là động tác đơn giản, phải qua một quá trình phân tích và tổng hợp của các động tác nhỏ và yếu tố tâm trí.
Sự mất thăng bằng và phối hợp động tác gọi là loạng choạng (ataxie) đặc biệt thường gặp trong những rối loạn cảm giác sâu bệnh tabet, hội chứng tiểu não và hội chứng tiền đỉnh.
Nghiệm pháp phát hiện loạng choạng:
Ngón tay chỉ mũi:
Gót chân đầu gối:
Qua hai nghiệm pháp trên, có thể thấy ba khả năng.
Người bệnh chỉ chỉ đúng, không run tay.
Chỉ quá mức: Ngón tay hoặc ngón chân đi đúng hướng nhưng đi quá lên trên: quá tầm. Gặp trong tổn thương tiểu não.
Chỉ không đúng đích: Ngay lúc làm động tác, ngón tay người bệnh run rẩy, hướng chỉ không đúng: rối tầm. Gặp trong tổn thương cảm giác sâu và trong bệnh tabet.
Lật úp liên tiếp bàn tay:
Bảo người bệnh lật úp liên tiếp bàn tay. Bình thường có thể làmmột cách nhịp nhành, nhanh nhẹn. Khi thực hiện động tác này một cách khó khăn, ngượng nghịu là bất thường và gọi là mất liên động, thường gặp tronghội chứng tiểu não. Cần chú ý làcác nghiệm pháp trên chỉ cógiá trị không có liệt và không có tăng trương lựccơ gây vận động khó khăn.
Dấu hiệu Romberg:
Người bệnh đứng chụm chân (hai ngón cái liền nhau, nhắm mắt và giơ hai tay ra phía trước). Trường hợp dấu hiệuRomberg (+), người bệnh sẽ nghiêng ngả lảo đảo rồi ngã:
Trong bệnh tabet: Người bệnh ngã bất cứ theo hướng nào.
Trong hội chứng tiền đình, người bệnh luôn ngã về một hướng. Hướng này phụ thuộc vào tư thế đầu người bệnh.
Có thể tóm tắt các rối loạn loạng choạng trong bảng dưới đây:
|
Loạng choạng |
Tabet |
Tiểu não |
Tiền đình |
|
Rối tầm |
++ |
0 |
0 |
Vận động bất thường
Có nhiều loại vận động bất thường không tựchủ, cần chú ý phát hiện.
Nguyên nhân khám
Quan sát kỹ người bệnh lúc nghỉ. Nhiều khi phải kích thích bằng búa phản xạ hoặc kim châm, nhất là những loại vận động có biên độ thấp.
Nghiên cứu kỹ tính chất của vận động bất thường: Địa điểm, nhịp điệu cường độ, thời gian xuất hiện và ảnh hưởng của bên ngoài
Các loại động tác bất thường chủ yếu
Run:
Là những cử động bất thường có biên độ đều, thường khu trú ở các đầu chi.
Có nhiều kiểu run: bệnh Parkinson, bệnh về tiểu não, Basedow, tuổi già, uống rượu.
Co giật:
Là hiện tượng giật cơ khu trú hay toàn thể, biên độ lớn. Tần số thấp (chậm) hơi run. Thường gặp trong động kinh, uốn ván, urê máu cao, bệnh sản giật, sốt cao ở trẻ em.
Múa nhanh:
Là những cử động hỗn độn, vô nghĩa, biên độ lớn nhanh. Điển hình là cơn múa nhanh Sydenham
Múa vờn:
Là những cử động chậm hơn, uốn lượn. Thường khu trú ở ngọn chi trên.
Nghiên cứu một vài dáng đi
Nghiên cứu dáng đi giúp ta biết thêm hướng chẩn đoán. Có nhìêu loại dáng đi tùy theo địa điểm tổn thương thần kinh:
Trong liệt nửa người
Thường liệt cứng thì mới quan sát được.
Trường hợp co cứng nhiều: Có dáng đi vòng kiềng, người bệnh không thể gập đùi lại được (co cứng duỗi) và đi vát thành nửa vòng (như kiểu phát cỏ).
Trường hợp co cứng trung bình, người bệnh đi kiểu quét đất.
Trong liệt cứng hai chi dưới
Người bệnh có thể đi được, nhưng hai đùi đi sát vào nhau, đầu gối va vào nhau, bàn chân khó nhắc lên khỏi mặt đất. Trường hợp co cứng quá phải dùng nạng, hai chân lủng lẳng như quả lắc đồng hồ.
Trong bệnh Parkinson
Dáng đi chậm, hai cánh tay dán sát vào thân không vung vẩy.
Van love - thành viên thongtinthuoc.net - lớp siêu âm đại học y Phạm Ngọc Thạch TP.HCM dịch thuật
Có thể bạn quan tâm
- Thông tin Bệnh án và bệnh lịch nội khoa
- Thông tin Các phương pháp khám cận lâm sàng gan mật
- Thông tin Các tiếng bệnh lý khi nghe phổi
- Thông tin Cách khám lâm sàng hệ hô hấp
- Thông tin Cách khám một người bệnh nội tiết
- Thông tin Chẩn đoán cổ chướng
- Thông tin Chẩn đoán định khu hệ thần kinh
- Thông tin Chẩn đoán gan to
- Thông tin Chẩn đoán hạch to
- Thông tin Chẩn đoán hoàng đản
- Thông tin Chẩn đoán lách to
- Thông tin Chẩn đoán thận to
- Thông tin Chẩn đoán thiếu máu
- Thông tin Chẩn đoán túi mật to
- Thông tin Chảy máu đường tiêu hóa
- Thông tin Chụp động mạch vành
- Thông tin Cơ bản về điện tâm đồ
- Thông tin Đái nhiều, đái ít và vô niệu
- Thông tin Đái ra huyết cầu tố
- Thông tin Đái ra máu
- Thông tin Đái ra mủ
- Thông tin Đái ra protein
- Thông tin Đau bụng
- Thông tin Đau bụng cấp tính và mãn tính
- Thông tin Điện não đồ
- Thông tin Ghi điện cơ và điện thần kinh
- Thông tin Hội chứng chảy máu
- Thông tin Hội chứng cường thùy trước tuyến yên
- Thông tin Hội chứng đau đầu
- Thông tin Hội chứng đau thắt lưng
- Thông tin Hội chứng đông đặc
- Thông tin Hội chứng Guillain Barre
- Thông tin Hội chứng hạ Glucose (đường) máu
- Thông tin Hội chứng hang
- Thông tin Hội chứng Hemoglobin
- Thông tin Hội chứng lách to
- Thông tin Hội chứng liệt hai chi dưới
- Thông tin Hội chứng liệt nửa người
- Thông tin Hội chứng ống cổ tay
- Thông tin Hội chứng phế quản
- Thông tin Hội chứng Porphyrin niệu
- Thông tin Hội chứng Protein niệu
- Thông tin Hội chứng rối loạn cảm giác
- Thông tin Hội chứng rối loạn thần kinh tự chủ
- Thông tin Hội chứng rối loạn tiêu hoá
- Thông tin Hội chứng rối loạn vận động
- Thông tin Hội chứng suy thùy trước tuyến yên
- Thông tin Hội chứng suy tim
- Thông tin Hội chứng tăng áp lực nội sọ
- Thông tin Hội chứng tăng Glucose (đường) máu
- Thông tin Hội chứng tăng Ni tơ máu
- Thông tin Hội chứng thiếu máu
- Thông tin Hội chứng tiền đình tiểu não
- Thông tin Hội chứng tràn dịch màng phổi
- Thông tin Hội chứng trung thất
- Thông tin Hội chứng xuất huyết
- Thông tin Ỉa chảy cấp, mạn tính
- Thông tin Khám 12 dây thần kinh sọ não
- Thông tin Khám bệnh và chẩn đoán nội khoa
- Thông tin Khám cảm giác
- Thông tin Khám cận lâm sàng ống tiêu hóa
- Thông tin Khám dinh dưỡng và cơ tròn
- Thông tin Khám hệ vận động, tiền đình, tiểu não
- Thông tin Khám hội chứng màng não
- Thông tin Khám lâm sàng hệ thống thận tiết niệu
- Thông tin Khám lâm sàng hệ tiêu hóa
- Thông tin Khám một người bệnh tim mạch
- Thông tin Khám phản xạ
- Thông tin Khám thắt lưng hông
- Thông tin Khám và chẩn đoán hôn mê
- Thông tin Khám và chẩn đoán phù
- Thông tin Nghiệm pháp gắng sức
- Thông tin Phát hiện tổn thương bệnh học hệ tiết niệu
- Thông tin Phương pháp khám mạch máu
- Thông tin Rối loạn cân bằng acid bazơ
- Thông tin Rối loạn chuyển hóa Canxi
- Thông tin Rối loạn chuyển hóa Gluxit
- Thông tin Rối loạn chuyển hóa Kali
- Thông tin Rối loạn chuyển hóa lipid
- Thông tin Rối loạn chuyển hóa Magie
- Thông tin Rối loạn chuyển hóa Natri
- Thông tin Rối loạn chuyển hóa nước, điện giải
- Thông tin Rối loạn chuyển hóa Phospho
- Thông tin Rối loạn chuyển hóa protein
- Thông tin Rối loạn Glucose (đường) máu
- Thông tin Rối loạn huyết áp động mạch
- Thông tin Rối loạn tiểu tiện, đái buốt, đái rắt, bí đái
- Thông tin Táo bón và kiết lỵ
- Thông tin Thăm dò cận lâm sàng về hô hấp
- Thông tin Thăm dò chức năng hô hấp
- Thông tin Thăm dò chức năng thận
- Thông tin Thăm dò chức năng tim
- Thông tin Thăm dò hình thái quang học thận
- Thông tin Thăm khám bộ máy vận động
- Thông tin Thăm khám cận lâm sàng tim
- Thông tin Thăm khám chuyên khoa thần kinh
- Thông tin Thăm khám lâm sàng tim
- Thông tin Tràn dịch tràn khí màng phổi phối hợp
- Thông tin Trào ngược dạ dày thực quản
- Thông tin Triệu chứng bệnh đái tháo nhạt
- Thông tin Triệu chứng bệnh hậu môn trực tràng
- Thông tin Triệu chứng bệnh van tim
- Thông tin Triệu chứng cơ năng bệnh khớp
- Thông tin Triệu chứng cơ năng hô hấp
- Thông tin Triệu chứng cơ năng thận tiết niệu
- Thông tin Triệu chứng cơ năng tiêu hóa
- Thông tin Triệu chứng cơ năng trong bệnh mạch máu
- Thông tin Triệu chứng cơ năng trong bệnh tim
- Thông tin Triệu chứng học dạ dày
- Thông tin Triệu chứng học đại tràng
- Thông tin Triệu chứng học gan mật
- Thông tin Triệu chứng học ruột non
- Thông tin Triệu chứng học thực quản
- Thông tin Triệu chứng học tụy tạng
- Thông tin Triệu chứng học tuyến cận giáp
- Thông tin Triệu chứng học tuyến giáp
- Thông tin Triệu chứng học tuyến thượng thận
- Thông tin Triệu chứng học tuyến yên
- Thông tin Triệu chứng loạn nhịp tim
- Thông tin Triệu chứng nhồi máu cơ tim cấp
- Thông tin Triệu chứng thực thể bệnh cơ xương khớp
- Thông tin X quang sọ não
- Thông tin Xét nghiệm dịch não tủy
- Thông tin Xét nghiệm tìm vi khuẩn và ký sinh vật hệ tiết niệu
- Thông tin Xuất huyết tiêu hóa