Định typ HLA miễn dịch
Hiện nay, việc định týp HLA được thực hiện bằng kỹ thuật PCR (polymerase chain reaction) để phát hiện gen HLA. Kỹ thuật này tốn kém hơn nhưng có độ chính xác và độ nhạy cao hơn nhiều so với các kỹ thuật khác.
Thông tin chung
Kháng nguyên bạch cầu người (HLA) là tên dành cho các kháng nguyên hòa hợp mô (ghép) chủ yếu ở người. Có nhiều kháng nguyên hòa hợp mô trên bạch cầu, trong đó kháng nguyên của hệ HLA là quan trọng nhất. Những kháng nguyên này hiện diện trên tất cả các mô của cơ thể, nhưng chúng ta chỉ dễ dàng định týp HLA trên các tế bào lympho máu ngoại biên vì chúng chỉ có mật độ đủ lớn trên những tế bào này. Khác với hệ thống ABO của hồng cầu, không có kháng thể anti-HLA tự nhiên trong cơ thể người. Các sinh phẩm dùng để định týp là kháng thể được sản xuất do quá trình miễn dịch xảy ra trong truyền máu hoặc thai kỳ. Thử nghiệm thường dùng nhất là thử nghiệm gây độc lympho bào (lymphocytotoxic test). Tế bào lymphô sống được tách từ máu ngoại vi bằng ly tâm gradient tỉ trọng như đã đề cập ở trên. Dung dịch tế bào sau đó được trộn với các huyết thanh định týp khác nhau, sau đó bổ thể (người ta thường dùng huyết thanh thỏ bình thường để làm nguồn cung cấp bổ thể) được thêm vào. Sau khi ủ một thời gian ở 370C, những tế bào được kháng thể nhận diện sẽ bị giết bằng phản ứng ly giải qua trung gian bổ thể. Tế bào chết được phát hiện hiện qua khả năng chúng không thể ngăn cản thuốc nhuộm xâm nhập. Nếu phần lớn (>90%) các tế bào bị giết bởi một kháng huyết thanh nào đó, thì điều đó có nghĩa rằng chúng ta đã mang HLA tương ứng nên đã bị kháng thể nhận diện.
Thử nghiệm này chỉ được tiến hành thường quy ở những trung tâm chuyên khoa chuyên định týp HLA cho các trường hợp ghép cơ quan. Kỹ thuật đòi hỏi khá nhiều thời gian, đắt tiền và trình độ kỹ năng phải cao cũng như phải có nhiều kinh nghiệm trong việc đọc kết quả. Do đó trước khi đề nghị làm kết quả xét nghiệm này, cần phải xin ý kiến tham vấn trước, và khi đã được nhất trí thì phải lấy máu chống đông và gởi ngay đến cho la-bô.
Hiện nay, việc định týp HLA được thực hiện bằng kỹ thuật PCR (polymerase chain reaction) để phát hiện gen HLA. Kỹ thuật này tốn kém hơn nhưng có độ chính xác và độ nhạy cao hơn nhiều so với các kỹ thuật khác.
Khá nhiều bệnh cho thấy có sự phối hợp với những kháng nguyên HLA nhất định. Ví dụ, trong bệnh viêm đốt sống dính khớp, có hơn 90% bệnh nhân dương tính với HLA-B27, ngược với tỉ lệ thấp (8%) của HLA này trong nhân dân. Đây là bệnh duy nhất mà việc định týp HLA được xem là có ích cho chẩn đoán. Trong những bệnh khác, sự phối hợp với HLA tỏ ra yếu hơn nhiều. Hơn nữa, tần xuất gen (tính được qua “Mức độ phổ biến” của kháng nguyên trong quần thể) người bình thường quá cao cho đến nỗi sự hiện diện của chúng không nói lên được gen đó có phối hợp với một bệnh nào đó sẽ xảy ra hay không.
Hùng John - lớp định hướng nhi đại học y Hà nội - thành viên thongtinthuoc.netCó thể bạn quan tâm
- Thông tin Sản xuất kháng huyết thanh cho các phòng thí nghiệm miễn dịch lâm sàng
- Thông tin Bằng chứng về tính chất gây bệnh của phản ứng tự miễn
- Thông tin Bệnh nguyên bệnh miễn dịch
- Thông tin Các cơ quan mô lymphô của hệ thống miễn dịch
- Thông tin Các con đường và cơ chế tái tuần hoàn và homing của tế bào lymphô
- Thông tin Các cytokin trung gian và điều hòa miễn dịch bẩm sinh
- Thông tin Các cytokin trung gian và điều hòa miễn dịch thu được
- Thông tin Các đặc điểm chính của đáp ứng miễn dịch thu được
- Thông tin Các giai đoạn của đáp ứng miễn dịch thu được
- Thông tin Các kiểu đáp ứng miễn dịch thu được
- Thông tin Các phản ứng quá mẫn không đặc hiệu
- Thông tin Các thành phần tế bào của hệ thống miễn dịch thu được
- Thông tin Các tính chất của kháng nguyên
- Thông tin Cấu trúc phân tử của kháng thể
- Thông tin Chẩn đoán và tiên lượng bệnh miễn dịch
- Thông tin Cơ chế bệnh sinh bệnh miễn dịch
- Thông tin Con đường hoạt hóa bổ thể cổ điển (classical pathway)
- Thông tin Con đường hoạt hóa bổ thể không cổ điển (alternative pathway)
- Thông tin Cytokin kích thích tạo máu
- Thông tin Đại cương bổ thể
- Thông tin Đại cương các kỹ thuật miễn dịch
- Thông tin Đại cương các tế bào chủ yếu của hệ thống miễn dịch
- Thông tin Đại cương miễn dịch
- Thông tin Đại cương miễn dịch chống vi sinh vật
- Thông tin Đại cương thiếu hụt miễn dịch
- Thông tin Đại cương về Cytokin
- Thông tin Đại cương về quá mẫn miễn dịch
- Thông tin Đánh giá tế bào trung tính và tế bào mono
- Thông tin Điều trị bệnh miễn dịch
- Thông tin Định lượng immunoglobulin và các protein đặc hiệu khác
- Thông tin Kháng thể đối với kháng nguyên ngoại sinh
- Thông tin Khảo sát bổ thể miễn dịch
- Thông tin Khảo sát định tính immunoglobulin
- Thông tin Khảo sát lymphô bào miễn dịch
- Thông tin Khảo sát phức hợp miễn dịch
- Thông tin Kỹ thuật DNA tái tổ hợp và miễn dịch lâm sàng
- Thông tin Miễn dịch chống ký sinh trùng
- Thông tin Miễn dịch chống nấm
- Thông tin Miễn dịch chống vi khuẩn
- Thông tin Miễn dịch chống virus
- Thông tin Một số hiệu quả thuận lợi của phản ứng tự miễn
- Thông tin Một số kháng nguyên quan trọng
- Thông tin Phân bố tự nhiên và sản xuất kháng thể
- Thông tin Phát hiện tự kháng thể
- Thông tin Quá mẫn miễn dịch typ I
- Thông tin Quá mẫn miễn dịch typ II
- Thông tin Quá mẫn miễn dịch typ III
- Thông tin Quá mẫn miễn dịch typ IV (Quá mẫn muộn)
- Thông tin Quá mẫn miễn dịch typ V (Quá mẫn kích thích)
- Thông tin Sự hình thành phức hợp tấn công màng C5 9
- Thông tin Sự kết hợp kháng nguyên kháng thể
- Thông tin Sự sắp xếp các bệnh tự miễn thường gặp ở người
- Thông tin Tế bào lymphô hệ miễn dịch
- Thông tin Tế bào trình diện kháng nguyên
- Thông tin Thiếu hụt miễn dịch thứ phát
- Thông tin Thiếu hụt miễn dịch tiên phát
- Thông tin Tính di truyền của bệnh tự miễn
- Thông tin Tính miễn dịch bẩm sinh và thu được
- Thông tin Tính tự miễn dịch