Giải phẫu bệnh của đường mật
Căn bệnh sỏi túi mật hay kèm với viêm túi mật mạn. Tuy vậy chỉ có 20% bệnh nhân sỏi mật có triệu chứng lâm sàng khi sỏi to, gây vàng da tắc mật.
Mở đầu
Túi mật và hệ thống ống mật được nuôi dưỡng bởi nhánh của động mạch gan, là đường liên lạc trực tiếp giữa gan với ống tiêu hoá. Túi mật hình nón, dài 7-10cm, chứa 30-50 cc mật. Từ mỗi thùy gan, mật từ các ống nhỏ đổ chung vào một ống, rồi vào ống gan chung dẫn vào túi mật. Mật từ túi theo ống mật chủ đổ vào tá tràng ở bóng Vater. Có 60-70% người lớn có ống tụy đổ chung vào ống mật chủ trước khi vào tá tràng, nên viêm túi mật cấp có liên quan đến hoại tử tụy.
Vi thể:
Túi mật có 4 lớp: (1) niêm mạc lót bởi một lớp tế bào trụ cao, tạo nhú, (2) lớp dưới niêm mạc mỏng, (3) lớp cơ trơn-sợi, co bóp túi mật, (4) lớp bao cơ và ngoài cùng là lớp phúc mạc bao bọc.
Mật do gan bài tiết gồm nước, cholesterol, muối mật, acid mật, bilirubin, lecithin, các ion vô cơ và mucoprotein do các ống mật chế tiết.
Dị tật bẩm sinh
Phần lớn các dị tật bẩm sinh của hệ ống-túi mật không ảnh hưởng sức khỏe bệnh nhân, ngoại trừ: (1) vô tạo hoặc chít hẹp hệ ống túi mật, toàn bộ hoặc từng phần khiến trẻ sơ sinh vàng da, tử vong sau vài tháng nếu không can thiệp phẫu thuật, (2) túi mật 2 đáy hoặc có 2 túi mật, và (3) vị trí bất thường: trong gan, hoặc có cuống treo lơ lửng trong mạc nối.
Sỏi mật
Gồm 3 loại sỏi:
(1) Sỏi cholesterol, hình bầu dục hoặc hình cầu, kích thước có khi 5-6 cm. Mặt cắt màu nâu vàng, các tinh thể xếp dạng hàng rào, phản chiếu ánh sáng.
(2) Sỏi bilirubin (thường gặp ở châu Á) do nhiễm E. coli hoặc ký sinh trùng, biến đổi sắc tố mật thành chất không tan, tạo sỏi. Bệnh thiếu máu tán huyết gây tăng lượng bilirubin vượt mức bão hòa trong mật cũng tạo sỏi. Sỏi bilirubin thường có nhiều cục đều nhau màu đen tuyền.
(3) Sỏi canxi, ít gặp nhất. Sỏi có màu xám nhạt, trơn láng.
Bệnh sỏi túi mật hay kèm với viêm túi mật mạn. Tuy vậy chỉ có 20% bệnh nhân sỏi mật có triệu chứng lâm sàng khi sỏi to, gây vàng da tắc mật.
Trường hợp hãn hữu, sỏi mật biến chứng lỗ dò ống mật- ruột, sỏi lạc sang ruột đến tận van hồi manh tràng, gây tắc ruột. Trên phim X quang bụng không thuốc cản quang chỉ thấy được sỏi canxi.
Viêm túi mật
Tiêu chuẩn chẩn đoán viêm túi mật thay đổi tùy từng tác giả. Có tác giả cho rằng, nếu có sỏi mật đương nhiên có viêm túi mật, tác giả khác chẩn đoán dựa trên hiện tượng tăng sản sợi làm dày thành túi. Tuy nhiên trên tử thiết, có phân nửa số người trưởng thành trên 40 tuổi bị viêm túi mật, nhưng chỉ một số ít có biểu hiện lâm sàng.
Ba hiện tượng bệnh lý chính là:
(1) Biến đổi sinh hoá trong thành phần mật, làm cô đặc mật
(2) Tăng áp lực ở thành túi, chèn ép mạch máu, tắc mạch
(3) Nhiễm khuẩn, vi khuẩn thường gặp là tụ cầu khuẩn, trực khuẩn gram âm, các cầu khuẩn ruột. Vi khuẩn đến túi mật bằng đường máu, limphô, trực tiếp ngược dòng đường mật. Cũng có khi tác nhân gây viêm là ký sinh trùng. Ở Việt Nam, viêm túi mật do giun đũa rất thường xảy ra. Giun đũa từ ruột non đi ngược lên, chui vào ống mật qua lỗ cơ vòng Oddi và có thể vào túi mật gây viêm. Xác giun tồn tại lâu ngày có thể là nguồn tạo sỏi mật.
Vài trường hợp viêm túi mật cấp có sự tham gia của các enzym tụy như lipase, amylase, protease, do dịch tụy trào ngược lên đường mật.
Viêm túi mật cấp làm túi mật phình to, căng, màu đỏ thẫm, lớp thanh mạc phủ tơ huyết hoặc có mủ. Vách túi phù nề, dày, lòng túi chứa đầy dịch mật trộn lẫn tơ huyết và mủ, trong 80% trường hợp có kèm sỏi mật. Nếu viêm nặng có thể gây biến chứng thủng, gây viêm mật phúc mạc.
Vi thể:
Túi mật phù nề, sung huyết, xuất huyết, thấm nhập bạch cầu đa nhân. Viêm mủ có các ổ áp xe nhỏ. Viêm hoại tử có tắc mạch, hoại tử túi mật.
Viêm túi mật cấp nếu không có biến chứng có thể chuyển sang thể bán cấp, với sự thay thế các bạch cầu đa nhân bằng các bạch cầu ái toan. Khi có lắng đọng canxi ở thành túi, túi mật trở nên cứng như sứ.
Viêm túi mật mạn làm túi mật teo, lớp thanh mạc căng láng và sậm màu do bị xơ hoá. Thành túi dày màu trắng, lòng túi chứa dịch màu xanh sậm, nhầy. Dưới kính hiển vi thấy đủ loại tế bào viêm mạn như tương bào, limphô bào, các đại thực bào và bạch cầu một nhân.
Bệnh tăng cholesterol mật
Bệnh do rối loạn chuyển hoá cholesterol trong dịch mật, không liên quan đến cholesterol trong máu. Bệnh gây ứ đọng cholesterol ở lớp dưới niêm mạc của túi mật. Có 2 giả thuyết giải thích hiện tượng này:
(1) Các tế bào ở lớp niêm mạc tăng sự tái hấp thụ cholesterol trong dịch mật.
(2) Các tế bào này giảm chế tiết cholesterol vào dịch mật.
Bệnh làm lớp niêm mạc túi mật có những nụ màu vàng nhạt như trái dâu. Dưới kính hiển vi, thấy lớp niêm mạc có những nếp phồng to, lớp dưới niêm mạc có nhiều mô bào với bào tương có nhiều hạt lipid. Khi tế bào này chết vỡ ra, phóng thích các hạt có tinh thể cholesterol, tạo phản ứng viêm có nhiều đại bào và nguyên bào sợi.
Bọc nhầy túi mật
Túi mật chứa đầy chất nhầy trong, căng phồng, bóng láng. Thành túi dãn mỏng, lớp niêm mạc thiểu dưỡng teo mỏng phẳng ra. Bệnh thường không gây khó chịu gì cho bệnh nhân, nhưng có khi gây buồn nôn, nôn kéo dài.
A.D lớp YTCC - K4 Y thái bìnhCó thể bạn quan tâm
- Thông tin Các kỹ thuật của giải phẫu bệnh
- Thông tin Đại cương giải phẫu bệnh bệnh xương
- Thông tin Gải phẫu bệnh các yếu tố và giai đoạn của viêm
- Thông tin Giải phẫu bệnh bệnh buồng trứng
- Thông tin Giải phẫu bệnh bệnh của miệng và xương hàm
- Thông tin Giải phẫu bệnh bệnh của tế bào nuôi
- Thông tin Giải phẫu bệnh bệnh hệ thần kinh
- Thông tin Giải phẫu bệnh bệnh hô hấp
- Thông tin Giải phẫu bệnh bệnh hốc miệng
- Thông tin Giải phẫu bệnh bệnh thực quản
- Thông tin Giải phẫu bệnh bệnh tim và mạch máu
- Thông tin Giải phẫu bệnh Carcinom nội mạc tử cung
- Thông tin Giải phẫu bệnh Carcinom vú
- Thông tin Giải phẫu bệnh của gan
- Thông tin Giải phẫu bệnh của ruột thừa
- Thông tin Giải phẫu bệnh của tuyến nước bọt
- Thông tin Giải phẫu bệnh của tuyến vú
- Thông tin Giải phẫu bệnh dạ dày
- Thông tin Giải phẫu bệnh đại tràng
- Thông tin Giải phẫu bệnh dị tật bẩm sinh dạ dày
- Thông tin Giải phẫu bệnh dị tật bẩm sinh đại tràng
- Thông tin Giải phẫu bệnh dị tật bẩm sinh tử cung
- Thông tin Giải phẫu bệnh đông máu nội mạch lan tỏa
- Thông tin Giải phẫu bệnh dương vật
- Thông tin Giải phẫu bệnh hạch lympho
- Thông tin Giải phẫu bệnh hoạt động đại thực bào
- Thông tin Giải phẫu bệnh hội chứng Asherman
- Thông tin Giải phẫu bệnh khối u
- Thông tin Giải phẫu bệnh khớp xương
- Thông tin Giải phẫu bệnh loét mạn tính dạ dày
- Thông tin Giải phẫu bệnh một số tổn thương đại tràng
- Thông tin Giải phẫu bệnh nguyên nhân gây phù viêm
- Thông tin Giải phẫu bệnh nội mạc tử cung và chuyển sản
- Thông tin Giải phẫu bệnh nội mạc tử cung và thuốc
- Thông tin Giải phẫu bệnh nội mạc tử cung và vòng tránh thai
- Thông tin Giải phẫu bệnh phẩn mềm
- Thông tin Giải phẫu bệnh phù
- Thông tin Giải phẫu bệnh rối loạn chức năng tử cung
- Thông tin Giải phẫu bệnh ruột non
- Thông tin Giải phẫu bệnh sốc
- Thông tin Giải phẫu bệnh thiếu nước và sung huyết
- Thông tin Giải phẫu bệnh tinh hoàn
- Thông tin Giải phẫu bệnh tổn thương chảy máu
- Thông tin Giải phẫu bệnh tổn thương dạng u phần mềm
- Thông tin Giải phẫu bệnh tổn thương giả u cổ tử cung
- Thông tin Giải phẫu bệnh tổn thương hoại tử máu
- Thông tin Giải phẫu bệnh tổn thương huyết khối
- Thông tin Giải phẫu bệnh tổn thương huyết tắc
- Thông tin Giải phẫu bệnh tổn thương lấp mạch
- Thông tin Giải phẫu bệnh tụy tạng
- Thông tin Giải phẫu bệnh tuyến giáp
- Thông tin Giải phẫu bệnh tuyến tiền liệt
- Thông tin Giải phẫu bệnh u ác tính cổ tử cung
- Thông tin Giải phẫu bệnh u cơ trơn tử cung
- Thông tin Giải phẫu bệnh u đại tràng
- Thông tin Giải phẫu bệnh u đường mật ngoài gan
- Thông tin Giải phẫu bệnh u hệ thần kinh
- Thông tin Giải phẫu bệnh u hỗn hợp trung bì tử cung
- Thông tin Giải phẫu bệnh u lành cổ tử cung
- Thông tin Giải phẫu bệnh u lành gan và đường mật
- Thông tin Giải phẫu bệnh u lành phần mềm
- Thông tin Giải phẫu bệnh u lành tính dạ dày
- Thông tin Giải phẫu bệnh u lành tử cung
- Thông tin Giải phẫu bệnh u lành tuyến vú
- Thông tin Giải phẫu bệnh u mầm bào buồng trứng
- Thông tin Giải phẫu bệnh u mô đệm dây giới bào (u mô đệm dục) buồng trứng
- Thông tin Giải phẫu bệnh u mô đệm nội mạc tử cung
- Thông tin Giải phẫu bệnh u phúc mạc
- Thông tin Giải phẫu bệnh u thượng mô thông thường buồng trứng
- Thông tin Giải phẫu bệnh u và giả u ruột
- Thông tin Giải phẫu bệnh u và tổn thương dạng u xương
- Thông tin Giải phẫu bệnh ung thư
- Thông tin Giải phẫu bệnh ung thư buồng trứng do di căn
- Thông tin Giải phẫu bệnh ung thư dạ dày
- Thông tin Giải phẫu bệnh ung thư di căn đến não
- Thông tin Giải phẫu bệnh ung thư gan
- Thông tin Giải phẫu bệnh ung thư phần mềm
- Thông tin Giải phẫu bệnh viêm cổ tử cung
- Thông tin Giải phẫu bệnh viêm dạ dày
- Thông tin Giải phẫu bệnh viêm đại tràng
- Thông tin Giải phẫu bệnh viêm giang mai
- Thông tin Giải phẫu bệnh viêm lao
- Thông tin Giải phẫu bệnh viêm não màng não
- Thông tin Giải phẫu bệnh viêm phong (cùi, hủi)
- Thông tin Giải phẫu bệnh viêm tử cung
- Thông tin Giải phẫu bệnh viêm xương
- Thông tin Giải phẫu bệnh vô sinh do tử cung
- Thông tin Giải phẫu học cổ tử cung trong giải phẫu bệnh
- Thông tin Lịch sử giải phẫu bệnh
- Thông tin Lợi hại và phân loại viêm theo giải phẫu bệnh
- Thông tin Mối quan hệ giữa giải phẫu bệnh và lâm sàng
- Thông tin Một số tổn thương giải phẫu bệnh dạ dày
- Thông tin Nội dung nghiên cứu và nhiệm vụ giải phẫu bệnh
- Thông tin Phôi thai mô học và sinh lý học tử cung
- Thông tin Sarcom cơ trơn tử cung
- Thông tin Tổn thương cơ bản của tế bào và mô