dùng kháng sinh hợp lý
Điều trị kháng sinh hướng trực tiếp vào tác nhân gây bệnh bao hàm: Thuốc có hiệu quả nhất, ít độc nhất, phổ chọn lọc nhất.
Một số biện pháp hạn chế gia tăng vi khuẩn kháng kháng sinh
Chỉ dùng kháng sinh để điều trị những bệnh nhiễm trùng do vi khuẩn gây ra (không dùng thuốc kháng khuẩn để điều trị nhiễm trùng do virus).
Chọn kháng sinh theo kết quả kháng sinh đồ; nên ưu tiên kháng sinh có hoạt phổ hẹp có tác dụng đặc hiệu trên vi khuẩn gây bệnh.
Dùng kháng sinh đủ liều lượng và thời gian.
Đề cao các biện pháp khử trùng và tiệt trùng, tránh lan truyền vi khuẩn
đề kháng.
Liên tục giám sát sự đề kháng kháng sinh của vi khuẩn.
Chọn kháng sinh
Sáu điều cân nhắc khi chọn kháng sinh (theo Tổ chức Y tế thế giới, 1991) cho một vi khuẩn là tác nhân gây bệnh, là:
Phổ tác dụng của thuốc.
Đặc tính Đặc điểm dược động học.
Độc tính.
Hiệu quả.
Khả năng sẵn có.
Giá cả.
Theo tài liệu "Hướng dẫn dùng kháng sinh" của Hội đồng Tư vấn dùng thuốc Victorian, Australia (1997) thì việc chọn thuốc dựa trên các yếu tố sau:
Phổ tác dụng của thuốc trên vi khuẩn nghi ngờ là tác nhân gây bệnh.
Độ an toàn.
Kinh nghiệm điều trị thực tế trước đó.
Giá cả.
Khả năng chọn lọc vi khuẩn đề kháng và nguy cơ bội nhiễm.
Tầm quan trọng của từng yếu tố tuỳ thuộc vào mức độ nặng nhẹ của bệnh và còn tuỳ thuộc vào tác nhân gây bệnh phân lập được. Ngoài ra, còn phải chú ý đến các phản ứng không mong muốn của từng thuốc với từng người bệnh.
Điều trị kháng sinh theo kinh nghiệm
Dựa trên cơ sở các số liệu dịch tễ học về vi khuẩn gây bệnh và kiểu cách (mức độ) đề kháng kháng sinh của chúng. Tuỳ theo điều kiện, lấy được bệnh phẩm để nhuộm Gram, nuôi cấy phân lập và thử kháng sinh đồ trước khi điều trị kháng sinh là tốt nhất. Một tiêu bản nhuộm Gram hay một xét nghiệm tìm kháng nguyên trực tiếp, ví dụ trong viêm màng não, có thể cho phép có được biện pháp điều trị đặc hiệu, trước khi có kết quả nuôi cấy.
Điều trị kháng sinh (hướng trực tiếp) theo kết quả xét nghiệm
Điều trị kháng sinh hướng trực tiếp vào tác nhân gây bệnh bao hàm: Thuốc có hiệu quả nhất, ít độc nhất, phổ chọn lọc nhất. Làm được như vậy sẽ giảm việc dùng kháng sinh phổ rộng, gây ra áp lực chọn lọc và nguy cơ bội nhiễm, cũng như sẽ mang lại hiệu quả kinh tế nhất.
Phối hợp kháng sinh
Dựa trên cơ sở:
Nhằm diệt được nhiều loại vi khuẩn trong các nhiễm khuẩn hỗn hợp, ví dụ kháng sinh diệt vi khuẩn ưa khí với kháng sinh diệt vi khuẩn kỵ khí cho nhiễm trùng do cả vi khuẩn ưa khí và kỵ khí gây ra; ví dụ đa chấn thương nhiễm bẩn, nhiễm trùng phụ khoa...
Nhằm làm tăng hiệu quả diệt khuẩn (tác dụng hiệp đồng - synergy) trên một loài vi khuẩn gây bệnh; ví dụ trong điều trị viêm màng trong tim do liên cầu đường ruột, viêm tuỷ xương...
Nhằm làm giảm xác suất xuất hiện vi khuẩn đề kháng (do đột biến), ví dụ trong điều trị lao phải phối hợp 3, thậm chí 5 kháng sinh.
Kháng sinh đồ
Định nghĩa: Kháng sinh đồ là kỹ thuật xác định độ nhạy cảm của vi khuẩn với kháng sinh nhằm giúp thầy thuốc chọn được kháng sinh thích hợp và biết liều lượng thích hợp dùng trong điều trị.
Có hai kỹ thuật kháng sinh đồ: Kỹ thuật kháng sinh khuếch tán và kháng sinh pha loãng trong môi trường nuôi cấy vi khuẩn. Phổ biến nhất là kĩ thuật khoanh giấy kháng sinh khuếch tán, được thực hiện tại nhiều labo Vi sinh lâm sàng. Kết quả của kỹ thuật kháng sinh đồ này được chia thành ba loại: Nhạy cảm S (susceptible), trung gian I (intermediate) và đề kháng R (resistant). Thầy thuốc thường sẽ chọn những kháng sinh cho kết quả S để điều trị và không dùng những kháng sinh cho kết quả R.
Hùng John - lớp định hướng nhi đại học y Hà nội - thành viên thongtinthuoc.netCó thể bạn quan tâm
- Thông tin về Bản chất của tương tác thuốc
- Thông tin về các quá trình Đặc điểm dược động học
- Thông tin về các thông số Đặc điểm dược động học ứng dụng trên lâm sàng
- Thông tin về các thuốc bài tiết qua đường sữa mẹ
- Thông tin về các thuốc nên tránh hoặc thận trong Khi sử dụng trong thời kỳ mang thai
- Thông tin về cửa sổ điều trị
- Thông tin về Đề phòng các nguy cơ tương tác thuốc
- Thông tin về Đặc điểm dược động học và tầm quan trọng trên lâm sàng
- Thông tin về Kháng sinh dự phòng trong ngoại khoa
- Thông tin về Liều dùng của một số kháng sinh
- Thông tin về Lựa chọn thuốc khác biệt dược cùng hoạt chất
- Thông tin về Lựa chọn thuốc theo phương pháp MADAM
- Thông tin về Một số nét về vi khuẩn học lâm sàng
- Thông tin về Một số nhận xét về dùng thuốc trong bệnh viện
- Thông tin về Nguyên tắc lựa chọn thuốc xây dựng danh mục thuốc bệnh viện
- Thông tin về Nhiễm trùng bệnh viện (nosocomial infection)
- Thông tin về Những thuốc nên tránh hoặc thận trọng Khi sử dụng cho người bệnh suy giảm chức năng thận
- Thông tin về Những vấn đề về dùng kháng sinh chưa hợp lý
- Thông tin về Nồng độ của thuốc trong huyết tương
- Thông tin về Phát hiện phân tích quản lý tương tác thuốc
- Thông tin về Sự đề kháng kháng sinh trên lâm sàng
- Thông tin về dùng kháng sinh điều trị một số bệnh nhiễm khuẩn thường gặp
- Thông tin về dùng thuốc cho người bị suy giảm chức năng gan
- Thông tin về dùng thuốc cho người bị suy giảm chức năng thận
- Thông tin về dùng thuốc cho người cao tuổi
- Thông tin về dùng thuốc cho phụ nữ có thai
- Thông tin về dùng thuốc cho trẻ nhỏ
- Thông tin về dùng thuốc ở bà mẹ cho con bú
- Thông tin về Thuốc kháng sinh trong lâm sàng
- Thông tin về Thuốc và mức độ suy giảm chức năng thận
- Thông tin về Tiêu chuẩn lựa chọn với thuốc khác hoạt chất có tác dụng tương đương
- Thông tin về Tra cứu tương tác thuốc
- Thông tin về Tương tác của một số kháng sinh thường dùng
- Thông tin về Tương tác thuốc với thức ăn đồ uống trên lâm sàng
- Thông tin về Xét nghiệm lâm sàng và nhận định kết quả