Sóng T bình thường và bệnh lý trên điện tâm đồ
Tuy nhiên, đến V5, V6, T có thể hơi thấp xuống do điện cực đã xa tim hơn. Ở các chuyển đạo thực quản cao và trong buồng tim, sóng T đều âm.
Tronglâmsàng, thường người ta chỉ chú trọng hình dạng và biên độ sóng T mà không cần tính thời gian tức bề rộng của T.
Các hình dạng hay gặp của sóng T như sau:
Khi T dương, người ta hay tả biên độ của nó bằng các từ ngữ T cao, T bình thường, T thấp,T dẹt, T đồng điện và người ta cũng hay tính biên độ tương đối của T so với R cùng chuyển đạo đó (nhất là V5, V6), thí dụ: T/R = 1/3…
Khi T âm, người ta tả biên độ nó bằng các từ ngữ T âm nhẹ, T âm sâu… và cũng có tính biên độ tuyệt đối của nó ra milimét, thí dụ T = – 4mm
T hai pha thường chỉ là dạng trung gian hay chuyển tiếp giữa T dương và T âm.
Sóng T bình thường
Bình thường, sóng T rộng và đậm nét, đỉnh tầy, hai sườn không đối xứng, với sườn xuống dốc đứng hơn còn sườn lên tiếp thoai thoải với đoạn ST. Sóng T:
Bao giờ cũng dương ở D1, aVF, V3, V4, V5, V6với biên độ lớn nhất ở V3, V4; ở đây, biên độ trung bình là 6mm và tối đa là 12mm. Biên độ tương đối T/R ở V5, V6 trung bình là 1/3 và tối thiểu là 1/10.
Bao giờ cũng âm ở aVR.
Ở D2: Đa số là dương, một số nhỏ 2 pha.
Ở D3, aVL, V2: phần lớn là dương, một số nhỏ hai pha hay âm.
Ở V4: phần lớn là âm (tối đa sâu 4mm) một số nhỏ là hai pha hay dương.
Như vậy, quy luật chung ở các chuyển đạo trước tim là: nếu xem xét sóng T lần lượt từ V1 đến V6 (nghĩa là từ phải sang trái bệnh nhân) thì sóng T phải chuyển dần từ âm tính sang dương tính.
Tuy nhiên, đến V5, V6, T có thể hơi thấp xuống do điện cực đã xa tim hơn. Ở các chuyển đạo thực quản cao và trong buồng tim, sóng T đều âm.
Sóng T bệnh lý
Khi T âm ở một chuyển đạo mà bình thường nó phải dương (hoặc dương ở một chuyển đạo mà bình thườngnó phải âm như ở aVR chẳng hạn) thì là một dấu hiệu bệnh lý chắc chắn, nhưng là của rất nhiều bệnh chứ không đặc hiệu cho bệnh nào.
Muốn biết T âm do bệnh gì thì việc đầu tiên là phải xét mối tương quan của nó với QRS:
Nếu QRS bị giãn rộng hay có biên độ cao nghĩa là có những biến đổi bệnh lý của blốc nhánh, ngoại tâm thu thất, nhịp nhanh thất, hội chứng W-P-W, dày thất trái hay một số ít ca dày thất phải thì có thể T âm chỉ là triệu chứng của các bệnh đó. Người ta gọi là T thứ phát. Trong trường hợp này, T vẫn giữ được hình dạng không đối xứng, cong, mềm mại…
Nếu QRS không giãn r ộng hay quá cao, nghĩa là không có triệu chứng của các bệnh nêu trên thì T âm (hay dẹt) thường là triệu chứng của bệnh mạch vành (nhồi máu cơ tim, cơn nghẹn tim), của viêm màng ngoài tim, của tình trạng cơ tim thiếu oxy (với dày thất phải) trong tim bẩm sinh tím hay tâm phế mạn. Người ta gọi là T tiên phát.
Ngoài ra, T âm tiên phát còn gặp trong suy tim, tê phù, thiếu máu, thiếu oxy trong máu nói chung, các rối loạn chuyển hóa trong viêm họng cấp, hạ canxi máu, tăng kali máu, nhiễm toan,nhiễm kiềm, hoại tử gan.
T thứ phát thường biến đổi, tỉ lệ với mức độ biến đổi của QRS, thí dụ QRS càng giãn rộng hay càng cao thì T càng âm sâu hơn.
Nhưng có những ca, với một mức độ rộng hay cao nhất định nào đó của QRS mà T âm không đủ sâu hay lại sâu quá, hay có khi lại dương thì phải nghĩ là có cả một T tiên phát phối hợp vào nó gây cho nó hình dạng “nửa dơi, nửa chuột” như vậy. Trường hợp này ta gọi là T hỗn hợp thường là do các bệnh phối hợp nhau sinh ra.
Thí dụ: trong dày thất trái (T thứ phát) phối hợp với bệnh mạch vành (T tiên phát) và có thể cho một sóng T hỗn hợp âm rất sâu, đối xứng và nhọn. Cần chú ý rằng ST chênh thường cũng hay hỗn hợp tương tự và đi kèm với T hỗn hợp để lập thành STT hỗn hợp.
Tất cả các mức độ âm sâu, nông của T so với QRS như đã nói ở trên thường có thể đánh giá được qua kinh nghiệm đọc và chẩn đoán điện tâm đồ.
Ở các chuyển đạo trước tim, một sóng T âm sẽ chắc chắn là bệnh lý (thiểu năng vành…) nếu nó đứng trái quy luật (xem trên) nghĩa là có kèm một sóng T dương ở các chuyển đạo nằm ở mé bên phải của nó. Thí dụ T ở V1bình thường có thể âm nhưng nếu T ở V1dương thì T ở V2 âm chắc chắn là bệnh lý.
Nói chung, T càng âm sâu thì càng bệnh lý hơn. T hai pha kiểu –/+ có giá trị bệnh lý như T âm nhẹ, còn T hai pha kiểu +/– và T dẹt thì có giá trị bệnh lý thấp hơn.
Khi T trở thành đối xứng với hai sườn có độ dốc bằng nhau, chỗ nối tiếp với ST không thoai thoải mà gấp khúc thành một góc rõ rệt, T có đỉnh nhọn hoặc có dạng chẻ đôi, nhất là ở V5, V6thì đầu tiên phải nghĩ đến bệnh mạch vành, rồi đến các nguyên nhân tiên phát khác (xem trên).
Khi T có dạng quá tròn trĩnh thì nên nghĩ đ ến một rối loạn điện giải.
Tất cả các hình dạng đó đều có thể đi một mình hoặc phối hợp với T âm, như thế nó càng có giá trị bệnh lý hơn.
Khi T dương và cao (và do cao quá nên đỉnh hơi nhọn) ở nhiều chuyển đạo thì thường là do nhịp nhanh hay cường thần kinh ở người trẻ, do gắng sức hay ở “tim vận động viên”. Nếu T cao nhọn xảy ra đột xuất ở một vài chuyển đạo thì đôi khi đó là “hình ảnh gián tiếp” của bệnh mạch vành.
Khi T dẹt ở hầu hết các chuyển đạo thì phần lớn là do phối hợp với sự giảm biên độ của QRS, tạo nên hình ảnh điện thế thấp (xem mục này).
A.D lớp YTCC - K4 Y thái bìnhCó thể bạn quan tâm
- Thông tin về các ảnh hưởng bên ngoài khi làm điện tâm đồ
- Thông tin về các bước đọc điện tâm đồ
- Thông tin về các tư thế điện học của tim trên điện tâm đồ
- Thông tin về cách đặt các chuyển đạo điện tâm đồ
- Thông tin về cách xác định trục điện tim (điện tâm đồ)
- Thông tin về Điện tâm đồ chẩn đoán các rối loạn nhịp tim
- Thông tin về Điện trường và đặt các chuyển đạo điện tâm đồ
- Thông tin về Đoạn ST bình thường và bệnh lý trên điện tâm đồ
- Tìm hiểu về ghi điện tâm đồ sai kỹ thuật
- Thông tin về hình ảnh bệnh động mạch vành trên điện tâm đồ
- Thông tin về hình ảnh block nhánh phải, nhánh trái trên điện tâm đồ
- Thông tin về hình ảnh block nhĩ thất trên điện tâm đồ
- Thông tin về hình ảnh block xoang nhĩ trên điện tâm đồ
- Thông tin về hình ảnh chủ nhịp lưu động trên điện tâm đồ
- Thông tin về hình ảnh cơn đau thắt ngực, nghiệm pháp gắng sức trên điện tâm đồ
- Thông tin về hình ảnh cuồng động nhĩ trên điện tâm đồ
- Thông tin về hình ảnh hội chứng Wolf Parkinson White (W-P-W) trên điện tâm đồ
- Thông tin về hình ảnh ngoại tâm thu thất, nhĩ (trên thất) điện tâm đồ
- Thông tin về hình ảnh nhịp bộ nối, thoát bộ nối và phân ly nhĩ thất
- Thông tin về hình ảnh nhịp nhanh kịch phát trên thất, thất
- Thông tin về hình ảnh nhịp xoang trên điện tâm đồ
- Thông tin về hình ảnh nhồi máu cơ tim, giai đoạn, các loại trên điện tâm đồ
- Thông tin về hình ảnh rung thất, rung nhĩ trên điện tâm đồ
- Thông tin về hình ảnh tăng gánh nhĩ trái, nhĩ phải và hai nhĩ trên điện tâm đồ
- Thông tin về hình ảnh tăng gánh thất trái, thất phải và hai thất trên điện tâm đồ
- Thông tin về Khoảng PQ bình thường và bệnh lý trên điện tâm đồ
- Thông tin về Khoảng QT bình thường và bệnh lý trên điện tâm đồ
- Thông tin về Máy điện tâm đồ hoạt động không đúng
- Thông tin về Nhĩ đồ và thất đồ trên điện tâm đồ
- Thông tin về Phân tích hình dạng sóng điện tâm đồ
- Thông tin về Phức bộ QRS bình thường và bệnh lý trên điện tâm đồ
- Thông tin về Phương pháp ghi và định chuẩn điện tâm đồ
- Thông tin về Quá trình điện học và hình thành điện tâm đồ
- Thông tin về Sóng P bình thường và bệnh lý trên điện tâm đồ
- Thông tin về Sóng U bình thường và bệnh lý trên điện tâm đồ
- Thông tin về Tính tần số tim trên điện tâm đồ
- Thông tin về Trục điện tim bình thường và bệnh lý
- Thông tin về Truyền đạt nhĩ thất trên điện tâm đồ
- Thông tin về Tư thế điện học của tim bình thường và bệnh lý