Kháng insulin và cơ chế bệnh sinh của đái tháo đường týp 2
Kháng insulin là một khái niệm thể hiện sự gia tăng nồng độ insulin và giảm nhạy cảm insulin của cơ quan đích. Chính vì vậy, kháng insulin còn gọi là cường insulin. Kháng insulin có thể được xác định dựa vào biến đổi của insulin trong mối liên quan với các yếu tố nội, ngoại sinh.
Khái niệm về kháng insulin
Kháng insulin là tình trạng suy giảm tác dụng sinh học của insulin, biểu hiện bằng gia tăng nồng độ insulin máu. Nói cách khác, kháng insulin xảy ra khi tế bào của mô đích không đáp ứng hoặc bản thân các tế bào chống lại sự tăng insulin máu. Các yếu tố cấu thành kháng insulin đã được khẳng định bao gồm:
Rối loạn glucose huyết thanh (rối loạn glucose huyết thanh lúc đói, rối loạn dung nạp glucose hay đái tháo đường týp 2).
Tăng huyết áp (THA).
Rối loạn lipid máu (RLLM) trong đó rõ nét nhất là giảm HDL-c và tăng triglycerid (TG).
Kháng insulin gây vữa xơ động mạch (VXĐM).
Dư cân, béo phì nhất là béo phì dạng nam được xem như yếu tố khởi phát kháng insulin.
Tổn thương cầu thận với sự xuất hiện protein niệu.
Bên cạnh đó tồn tại một số yếu tố nguy cơ tạo điều kiện xuất hiện và tiến triển kháng insulin bao gồm: Tuổi trên 40, lối sống tĩnh tại, ít vận động, thói quen ăn nhiều đạm, mỡ động vật, nhiều đường, tinh bột, uống bia rượu, tiền sử gia đình có bệnh đái tháo đường týp 2, tăng huyết áp, tiền sử rối loạn dung nạp glucose hoặc đái tháo đường thai kỳ, chỉ số khối cơ thể ≥ 25,0 kg/m2, chu vi vòng bụng ở nam >102 cm, ở nữ >88 cm, tăng triglycerid (TG) và/ hoặc giảm HDL-c, bệnh động mạch vành, chứng gai đen hoặc buồng trứng đa nang. Kháng insulin là cơ chế bệnh sinh chủ yếu gây bệnh đái tháo đường týp 2, xuất hiện trước khi phát hiện bệnh từ 10 đến 12 năm.
Phương pháp xác định kháng insulin
Kháng insulin là một khái niệm thể hiện sự gia tăng nồng độ insulin và giảm nhạy cảm insulin của cơ quan đích. Chính vì vậy, kháng insulin còn gọi là cường insulin. Kháng insulin có thể được xác định dựa vào biến đổi của insulin trong mối liên quan với các yếu tố nội, ngoại sinh. Có nhiều phương pháp xác định kháng insulin mà việc áp dụng các phương pháp tùy thuộc vào điều kiện, phương tiện.
Phương pháp đánh giá hoạt động nội sinh insulin
Định lượng nồng độ insulin huyết tương lúc đói:
Hiện nay có một số phương pháp định lượng nồng độ insulin với độ chính xác khác nhau bao gồm: Phương pháp miễn dịch phóng xạ (RIA- Radio Immuno Assay), đo lượng phóng xạ miễn dịch học (IRMA= Immuno Radio Metric Assay), kỹ thuật miễn dịch điện hóa phát quang (ECLIA= Electro Chemiluminessance Immuno Assay), kỹ thuật miễn dịch enzym với những kháng thể đơn dòng kháng insulin. Phương pháp RIA do không phân biệt được insulin nguyên vẹn và các loại insulin khác như insulin ngoại sinh dung trong điều trị nên nồng độ thường cao hơn so với thực tế. Các phương pháp còn lại cho kết quả khách quan hơn.
Định lượng insulin và glucose sau nghiệm pháp dung nạp:
Định lượng insulin và glucose trước và sau giờ thứ 2 của nghiệm pháp dung nạp glucose khi uống 75g glucose. Được coi là có kháng hay cường insulin khi nồng độ insulin.
Nghiệm pháp dung nạp glucose đường tĩnh mạch để đánh giá sự tiết insulin sớm và muộn sau khi truyền nhanh một lượng glucose tĩnh mạch. Xác định có kháng hay cường insulin cũng tương tự như 2 phương pháp.
Các phương pháp đánh giá hoạt động ngoại sinh của insulin
Khi đưa vào cơ thể 1 lượng insulin, tùy thuộc vào sự đáp ứng của cơ thể mà glucose huyết thanh sẽ biến đổi khác nhau khi có kháng insulin thì glucose huyết thanh sẽ giảm ít hơn so với những trường hợp không có kháng. Có một số nghiệm pháp được thực hiện như: Nghiệm pháp dung nạp insulin, nghiệm pháp dung nạp đường insulin ngắn, kỹ thuật kẹp đẳng đường - cường insulin và nghiệm pháp ức chế insulin. Trong số các nghiệm pháp trên thì có kỹ thuật kẹp đẳng đường - cường insulin vẫn được coi là tiêu chuẩn vàng để đánh giá kháng insulin. Các nghiệm pháp trên đều có chung một đặc điểm là dễ gây hạ glucose huyết thanh nên ít thực hiện. Kỹ thuật kẹp đẳng đường - cường insulin là kỹ thuật xâm nhập, phức tạp, đòi hỏi yêu cầu kỹ thuật cao và thời gian do đó cũng khó thực hiện.
Phương pháp gián tiếp xác định kháng insulin
Phương pháp gián tiếp đánh giá kháng insulin dựa trên mối liên quan giữa 2 chỉ số insulin (hoặc C-peptid) với glucose huyết thanh lúc đói còn gọi là mô hình HOMA-Homeostasis Model Assessment được Matthews DR đề xuất năm 1985 sau đó được Tổ chức y tế Thế giới (WHO) công nhận cách xác định này để đánh giá kháng insulin. Mô hình HOMA1 xác định chỉ số kháng insulin-IR được tính như sau: HOMA1-IR = Io x Go/ 22,5. Điểm cắt giới hạn là tứ phân vị cao nhất của nhóm chứng.
Ngoài chỉ số kháng insulin theo mô hình HOMA1 còn có chỉ số kiểm soát độ nhạy của insulin gọi tắt là QUICKI (Quantitative Insulin Sensitivity Check Index) được xác định theo công thức của Kazt và cộng sự nêu ra năm 2000.
QUICKI = 1/[log(I0) + log(G0)]
Để tính được QUICKI cần chuyển đổi đơn vị của glucose từ mg/dl sang mmol/l. Tổ chức y tế Thế giới quy định được coi là kháng insulin khi giá trị QUICKI < giá trị tứ phân vị thấp nhất ở nhóm chứng khỏe mạnh. Kết quả nghiên cứu của các tác giả đã khẳng định: HOMA1-IR và QUICKI có kết quả tương đương với kỹ thuật kẹp đẳng đường - cường insulin cho nên được dùng thay thế cho kỹ thuật này để đánh giá tình trạng kháng insulin ở bệnh nhân.
Xác định chức năng tế bào ß:
Khả năng tiết insulin của tế bào b được xác định theo công thức của Mathews DR gọi tắt là HOMA1-% B được tính theo công thức:
HOMA1-%B = (20 × Io)/ (Go - 3,5)
Xác định có giảm chức năng tế bào b khi giá trị của chỉ số ở BN < X -1SD của nhóm chứng.
Mô hình HOMA2 (Homeostasis Model Assessment 20:
Mô hình HOMA2 là phương pháp đánh giá chức năng tế bào b, kháng insulin và độ nhạy insulin dựa vào sự hằng định nội mô. Từ những phương trình thực nghiệm lặp lại thu được đã được máy tính mô phỏng, tính toán dựa trên không gian 3 chiều.
Mô hình HOMA2 có tính đến tất cả các yếu tố như mất glucose qua thận, dùng glucose ở não, sự biến thiên kháng insulin ở gan và các mô.
Ngoài việc dùng nồng độ glucose, insulin ở gan và các mô, mô hình HOMA2 còn cho phép dùng nồng độ insulin đặc hiệu hoặc C-peptid để tính toán. Việc đưa vào dùng nồng độ insulin đặc hiệu hoặc C-peptid sẽ tránh được những sai số do các xét nghiệm insulin thường có phản ứng chéo với proinsulin hoặc dùng cả nồng độ insulin ngoại sinh từ ngoài đưa vào cơ thể trong quá trình điều trị có dùng insulin tái tổ hợp theo công nghệ gen. Cũng theo khuyến cáo của các Hiệp hội Nội tiết-ĐTĐ thì nếu có đồng thời cả insulin và C-peptid thì nên dùng cặp C-peptid - glucose để xác định các chỉ số kháng insulin, độ nhạy cảm insulin và chức năng tế bào b vì C-peptid là marker của sự bài tiết insulin. Ngoài ra nếu dùng C-peptid sẽ cho kết quả khách quan hơn.
Nếu có cả nồng độ C-peptid và insulin, thì nên dùng C-peptid để tính chức năng tế bào b (vì C-peptid là marker của bài tiết) và dùng insulin để tính độ nhạy insulin (vì độ nhạy insulin thu được chính là sự dùng glucose thông qua hàm số nồng độ insulin).
Phần mềm HOMA2 để tính toán các chỉ số hiện có trên trang web: Dtu.ox.ac.uk với các cặp glucose và insulin trong đó glucose có thể đo với đơn vị mmol/l hoặc mg/dl, insulin tính bằng đơn vị pmol/l hoặc µUI/ml hoặc với cặp glucose - C-peptid, C-peptid tính bằng đơn vị nmol/l hoặc ng/ml. Sau khi điền nồng độ của các biến, kết quả sẽ trả lời đồng thời 3 chỉ số trong đó %B là chức năng tế bào b, %S là độ nhạy insulin và IR là chỉ số kháng insulin.
Như vậy với mô hình HOMA2 sẽ đồng thời xác định được 3 chỉ số kháng insulin, chức năng tế bào b, độ nhạy insulin có thể tính thông qua 2 cặp nồng độ glucose- insulin hoặc glucose- C-peptid.
Một số chỉ số không đặc hiệu khá:
Các chỉ số này cũng dựa trên mối liên quan về nồng độ giữa insulin và glucose tùy theo từng thời điểm hoặc là lúc đói, hoặc là phút thứ 30 của nghiệm pháp dung nạp đường máu.
Các chỉ số trên bao gồm: Chỉ số Mc Auley, chỉ số Bennett, chỉ số nhạy cảm insulin ISI (insulin sensitivity index).
Kháng insulin trong cơ chế bệnh sinh của đái tháo đường týp 2
Cơ chế bệnh sinh của bệnh đái tháo đường týp 2 khá phức tạp, là hậu quả của những bất thường xuất hiện ở cơ thể người bệnh. Sự tương tác giữa những rối loạn liên quan đến di truyền và yếu tố môi trường dẫn đến sự xuất hiện các cơ chế gây bệnh. Ba cơ chế bệnh sinh chủ yếu của bệnh đái tháo đường týp 2 bao gồm.
Kháng insulin tại mô đích.
Rối loạn chức năng tế bào b dẫn đến giảm tiết insulin.
Rối loạn chức năng tế bào alpha gây tăng tiết glucagon dẫn đến tăng sản xuất glucose từ gan.
Kháng insulin là cơ chế bệnh sinh chủ yếu, quan trọng nhất của bệnh đái tháo đường týp 2 nói chung. Tuy vậy mức độ biểu hiện và vai trò của kháng insulin lại liên quan đến chủng tộc, quốc gia và vùng lãnh thổ, theo đó ở BN người Châu Á đôi khi suy giảm CNTB b có thể là nổi trội hơn. Kháng insulin xuất hiện từ giai đoạn tiền đái tháo đường týp 2. Ở giai đoạn này, việc tăng tiết insulin nhằm bù lại sự giảm nhạy cảm của insulin đối với các mô đích, cố gắng duy trì tình trạng ổn định của glucose huyết thanh. Khi kháng insulin đạt đến mức độ đỉnh cho dù tăng tiết insulin cũng không bù lại được thì khi đó sẽ xuất hiện bệnh đái tháo đường týp 2 trên lâm sàng. Đối với những trường hợp nhờ tiết chế ăn uống phù hợp, rèn luyện thể lực, giảm cân dư thừa, điều trị RLLM thì có thể sẽ không xuất hiện đái tháo đường týp 2 và trong trường hợp đó mức độ kháng insulin có thể thuyên giảm. Kháng insulin ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2 bao gồm các biểu hiện sau.
Sự xuất hiện các sản phẩm chế tiết bất thường của tế bào b.
Sự xuất hiện chất đối kháng với tác dụng insulin trong máu.
Khiếm khuyết hoạt động của insulin tại các mô đích.
Rối loạn tiếp cận của insulin đến tổ chức.
Có giả thuyết cho rằng tăng insulin máu có thể là biểu hiện có trước và kháng insulin là cơ chế thứ phát chống lại tình trạng tăng insulin. Tuy vậy cũng có thể cả kháng insulin và biến đổi chức năng tế bào b đều có thể là thứ phát sau một rối loạn rất phổ biến đó là tăng acid béo tự do và insulin, là bằng chứng của kháng insulin ở tế bào mỡ đối với tác dụng ức chế phân hủy lipid của insulin. Kháng insulin gây ức chế tiêu lipid máu, quá trình này xảy ra ở các tế bào mỡ.
Kháng insulin là nguyên nhân dẫn đến tăng glucose huyết thanh song kháng insulin ở BN đái tháo đường týp 2 cũng là hậu quả của kiểm soát các chỉ số chuyển hóa trong đó có glucose, lipid và acid uric máu. Ngoài ra sự khiếm khuyết bài tiết insulin cũng liên quan với kháng insulin. Sự khiếm khuyết bài tiết insulin càng nặng thì càng làm gia tăng mức độ kháng insulin.
A.D lớp YTCC - K4 Y thái bìnhCó thể bạn quan tâm
- Thông tin Ảnh hưởng sinh lý của thông khí nhân tạo
- Thông tin Bệnh cơ tim chu sản
- Thông tin Bệnh Ebola
- Thông tin Biến chứng tim do tăng huyết áp
- Thông tin Block nhánh
- Thông tin Các bệnh da tăng sắc tố (hyperpigmentation)
- Thông tin Các biến chứng của thở máy
- Thông tin Các kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh trong bệnh hô hấp
- Thông tin Các loại thảo mộc tốt nhất cho gan
- Thông tin Các phác đồ kiểm soát đường huyết trong hồi sức cấp cứu
- Thông tin Các phản ứng truyền máu
- Thông tin Các triệu chứng của bệnh gan
- Thông tin Các từ viết tắt thường dùng trong thông khí nhân tạo
- Thông tin CÁCH NÀO LÀM GIẢM NGỨA HỌNG VÀ HO HIỆU QUẢ?
- Thông tin Chăm sóc bệnh nhân hôn mê
- Thông tin Chăm sóc bệnh nhân nặng
- Thông tin Chăm sóc bệnh nhân ngộ độc cấp
- Thông tin Chăm sóc bệnh nhân ngộ độc thức ăn
- Thông tin Chăm sóc bệnh nhân ngộ độc thuốc trừ sâu
- Thông tin Chăm sóc bệnh nhân phù phổi cấp
- Thông tin Chăm sóc bệnh nhân rắn cắn
- Thông tin Chăm sóc bệnh nhân sốc
- Thông tin Chăm sóc bệnh nhân tai biến mạch não
- Thông tin Chăm sóc bệnh nhân xơ gan
- Thông tin Chảy máu liên quan đến điều trị tiêu huyết khối
- Thông tin Chức năng của gan
- Thông tin Chức năng đầy đủ của gan
- Thông tin Co giật và động kinh
- Thông tin Cơn nhịp nhanh kịch phát trên thất
- Thông tin Đặc điểm giải phẫu sinh lý động mạch vành
- Thông tin Đại cương về suy thận mạn tính
- Thông tin Đặt nội khí quản đường miệng có đèn soi thanh quản
- Thông tin Diễn biến lâm sàng bệnh động mạch vành
- Thông tin Đông máu rải rác trong lòng mạch (DIC)
- Thông tin Dung dịch vệ sinh phụ nữ chất lượng cao
- Thông tin Dung dịch vệ sinh phụ nữ nổi tiếng số 1 năm 2012
- Thông tin Dung dịch vệ sinh phụ nữ tốt nhất
- Thông tin GIẢM NGỨA HỌNG VÀ HO DO THỜI TIẾT
- Thông tin Hậu sản thường
- Thông tin Hội chứng cai rượu cấp
- Thông tin Hội chứng HELLP
- Thông tin Hội chứng suy đa phủ tạng
- Thông tin Hướng dẫn chăm sóc bệnh nhân thở máy
- Thông tin Hướng dẫn tiến hành thông khí nhân tạo (cơ học)
- Thông tin Khái niệm và nguyên lý làm việc của máy ghi điện não
- Thông tin Khái niệm về thông khí nhân tạo trong điều trị tích cực
- Thông tin LÀM DỊU HỌNG NGAY KHI BỊ NGỨA HỌNG
- Thông tin Làm gì khi bị sốt cao, cảm cúm?
- Thông tin Lịch vắc xin cho trẻ em
- Thông tin Mất đồng bộ cơ tim ở bệnh nhân tăng huyết áp
- Thông tin Mở khí quản
- Thông tin Mục tiêu kiểm soát các chỉ số ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2
- Thông tin Nét cơ bản về giải phẫu sinh lý ứng dụng của bộ máy hô hấp
- Thông tin Ngừng tuần hoàn
- Thông tin Nguyên lý cấu tạo máy thở
- Thông tin Nguyên nhân của bệnh gan
- Thông tin Nhiễm khuẩn đường sinh sản
- Thông tin Nhiễm khuẩn hậu sản
- Thông tin Nồng độ NT proBNP và hội chứng mạch vành cấp
- Thông tin Ô mai! Món quà phương đông
- Thông tin Phòng bệnh phụ khoa
- Thông tin Phương thuốc cổ truyền trừ ho
- Thông tin Phương thuốc quý trị ho được lưu truyền hơn 300 năm (Xuyên bối tỳ bà cao)
- Thông tin Quá liều thuốc chống đông
- Thông tin Quy trình khử khuẩn máy thở
- Thông tin Quy trình kỹ thuật khí dung thuốc
- Thông tin Quy trình kỹ thuật thở ô xy
- Thông tin Rau bong non
- Thông tin Rối loạn kinh nguyệt
- Thông tin Sinh lý bệnh và hậu quả của bệnh động mạch vành
- Thông tin Sinh lý kinh nguyệt
- Thông tin Sổ rau thường
- Thông tin Sốc do tim
- Thông tin Sốc phản vệ (dị ứng)
- Thông tin Soi phế quản ống mềm
- Thông tin Spiriva
- Thông tin dùng hiệu quả insulin điều trị đái tháo đường
- Thông tin Thăm dò thông khí phổi và khí máu động mạch
- Thông tin Thấp tim
- Thông tin Theo dõi bệnh nhân thở máy
- Thông tin Theo dõi và chăm sóc bệnh nhân thở máy
- Thông tin Thở ô xy
- Thông tin Thổi ngạt
- Thông tin Thông khí không xâm nhập áp lực dương
- Thông tin Thông khí nhân tạo điều khiển ngắt quãng đồng thì (SIMV)
- Thông tin Thông khí nhân tạo điều khiển với áp lực dương ngắt quãng (IPPV/CMV)
- Thông tin Thông khí nhân tạo hỗ trợ áp lực (PSV)
- Thông tin Thông khí nhân tạo trong các bệnh phổi tắc nghẽn
- Thông tin Thông khí nhân tạo trong tổn thương phổi cấp và hội chứng suy hô hấp cấp tiến triển
- Thông tin Thông khí nhân tạo và chỉ định (thở máy)
- Thông tin Thông khí nhân tạo với thể tích lưu thông tăng dần
- Thông tin Thủ thuật Helmlich
- Thông tin Tính chất, phân tích một số nhịp sóng điện não cơ bản
- Thông tin Tổn thương phổi và viêm phổi do hít phải
- Thông tin Tổn thương thận ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2
- Thông tin Tổng quan về hội chứng mạch vành cấp
- Thông tin Tổng quan về nồng độ NT proBNP huyết thanh
- Thông tin Tràn khí màng phổi toàn bộ
- Thông tin TRỨNG CÁ - GIẢI PHÁP HẠN CHẾ VÀ TRỊ MỤN VÀO MÙA HÈ!
- Thông tin Vai trò của beta2 microglobulin ở bệnh nhân suy thận mạn tính
- Thông tin Vệ sinh phụ nữ - Phòng bệnh phụ khoa
- Thông tin Xử trí cơn hen phế quản nặng
- Thông tin Xử trí tăng Kali máu
- Thông tin Xuyên bối tỳ bà cao! Bài thuốc đông y trị ho lịch sử