Suy hô hấp cấp
Suy hô hấp cấp là tình trạng phổi đột nhiên không bảo đảm được chức năng trao đổi khí gây ra thiếu oxy máu, kèm theo hoặc không kèm theo tăng C02 máu.
Suy hô hấp là một tình trạng bệnh lý cấp cứu thường gặp nhất trong khoa hồi sức cấp cứu. Trong số"bệnh nhân cấp cứu có:
25-30% có bệnh đường hô hấp
30% là các bệnh khác biến chứng hô hấp đặc biệt là các bệnh ngộ độc cấp, nhiễm khuẩn và tim mạch.
Như vậy, tỷ lệ tử vong cao ở các bệnh nhân cấp cứu nói chung cũng do suy hô hấp cấp. Sự phấn đấu làm giảm tỷ lệ tử vong chung gắn liền với việc làm giảm tỷ lệ tử vong trong suy hô hấp cấp đặc biệt là ở trẻ em và người lớn tuổi.
Định nghĩa
Suy hô hấp cấp là tình trạng phổi đột nhiên không bảo đảm được chức năng trao đổi khí gây ra thiếu oxy máu, kèm theo hoặc không kèm theo tăng C02 máu. Thiếu oxy máu đơn thuần không có nghĩa là nhẹ hơn thiếu oxy máu có kèm theo tăng C02 máu, có khi lại nặng hơn như trong hội chứng suy hô hấp cấp ở người lớn (ARDS: adult respiratory distress syndrome).
Bệnh sinh
Hô hấp ở phạm vi phổi phụ thuộc vào nhiều yếu tố:
Thông khí phế nang, bằng thông khí toàn bộ trừ cho thể tích khoảng chết (VA = VT - DS) ở người lốn bình thường VA = 2,51.
Tuần hoàn của dòng máu trong phổi: Q = 3,51 (tưới máu): tuần hoàn này phụ thuộc vào cung lượng tim.
Khả năng khuếch tán khí qua màng phế nang - mao mạch.
Suy hô hấp có thể xảy ra do rốỉ loạn một trong ba yếu tô' trên, hoặc phốĩ hợp các yếu tố trên.
Thông khí phế nang VA có liên quan chặt chẽ với tình trạng tưới máu của phổi, ỏ người bình thường tỷ lệ, VA/Q = 2,51/3,51 = 0,8.
Ở một số bệnh phổi nhất định, có thể có nhiều cơ chế gây suy hô hấp cấp, ngược lại, có nhiều bệnh chỉ có một cơ chế chung. Thí dụ viêm phế quản phổi có thể vừa gây rối loạn thông khí, vừa gây bloc phế nang mao mạch, bại liệt, hội chứng Gluillain-Barré, nhược cơ, rắn hổ cắn, chứng porphyri cấp có thể gây liệt hô hấp.
Rối loạn thông khí:
Rối loạn thông khí là cơ chế thường gặp nhất trong suy hô hấp cấp. Giải quyết cơ chế này là một nhiệm vụ cấp bách của người làm cấp cứu.
Điển hình là tình trạng giảm thông khí phế nang toàn bộ được xác định bằng các triệu chứng.
Lâm sàng: xanh tím, vã mồ hôi, nhịp thở tăng hoặc giảm.
Xét nghiệm: PaCOg tăng và Pa02 giảm.
Giảm thông khí phế nang khu trú
Giảm thông khí phế nang khu trú có nhiều nguyên nhân:
Viêm phổi: tưối máu tăng nhưng thông khí mất ở vùng viêm phổi, VA/Q dưới 0,8, Pa02 giảm
Giãn phế nang: VA giảm, Q bình thường, VA/Q cũng giảm.
Trong các trường hợp này, PaC02 vẫn bình thường vì khuếch tán nhanh qua vùng phế nang không hoặc ít bị thương tổn, PaC02 có thể bị giảm vì tăng thông khí.
Rối loạn thông khí tưới máu rải rác thường gặp trong các đợt cấp cứu của viêm phế quản phổi mãn:
Có vùng giảm cả VA lẫn Q.
Có vùng giảm VA nhưng Q vẫn bình thường.
Có vùng VA bình thường nhưng Q mất.
Cuối cùng PaC02 và PaOo giảm như trong trường hợp giảm thông khí phế nang toàn bộ.
Rối loạn khuếch tán
Điển hình là tình trạng bloc phế nang - mao mạch, được xác định bằng xét nghiệm: Pa02 giảm, PaC02 vẫn bình thường vì C02 khuếch tán nhanh gấp 25 lần 02 qua màng phế nang mao mạch. Nhưng cũng có khi tình trạng tắc đòm lại kèm theo giảm thông khí phế nang làm cho PaC02 tăng.
Bloc phế nang mao mạch là cơ chế cơ bản trong ARDS và phù phổi cấp tổn thương.
Triệu chứng
Lâm sàng:
Khó thở:
Thiếu oxy máu kèm theo tăng hay không tăng PaC02 cũng đều gây khó thở.
Nhịp thở:
Có thể tăng 25 - 40 lần/phút, thường có co kéo cơ hô hấp như trong viêm phế quản phổi. Có thể giảm, dưối 15 lần/phút, không có co kéo do liệt hô hấp nguyên nhân trung ương như trong ngộ độc barbituric. Phải chỉ định thở máy ngay vì nhịp thỏ sẽ chậm dần.
Biên độ hô hấp:
Giảm trong viêm phế quản phổi, rắn hổ cắn, bại liệt, hội chứng Guillain -Barré, chứng porphyri cấp
Tăng trong hội chứng ARDS, tắc mạch phổi.
Xanh tím.
Ở mọi đầu ngón, khi Hb khử trên 5g/l00ml, Sa02 dưới 85%. Các đầu chi vẫn nóng, khác với sốc.
Không có xanh tím nếu thiếu máu.
Không có xanh tím mà đỏ tía, vã mồ hôi nếu tăng PaC02 nhiều như trong đợt cấp của viêm phế quản phổi mạn. Thường có kèm theo ngón tay dùi trống.
Rối loạn tim mạch:
Nhịp: thường nhanh, xoang hoặc có loạn nhịp nhanh (flutter, rung nhĩ nhanh hoặc cơn nhịp nhanh bộ nối). Rung thất thường là biểu hiện cuối cùng.
Huyết áp tăng hoặc hạ: thường tăng trước rồi sau, phải can thiệp ngay (bóp bóng, đặt ống nội khí quản, hút đờm, thở máy).
Ngừng tim do thiếu oxy nặng hoặc tăng PaC02 quá mức: cần cấp cứu ngay. Có thể phục hồi nhanh nếu can thiệp trước 5 phút.
Rôi loạn thần kinh và ý thức:
Não tiêu thụ 1/5 số oxy toàn cơ thể. VI vậy não chịu hậu quả sớm nhất tình trạng thiếu oxy và tăng C02 máu.
Rối loạn thần kinh giãy giụa lăn lộn, mất phản xạ gân xương.
Rốỉ loạn ý thức: ly bì, lò đờ, hôn mê.
Khám phổi:
Trong suy hô hấp nguyên nhân ngộ độc, thần kinh nhiều ran ẩm, đôi khi thấy xẹp phổi (phải quan sát kỹ lồng ngực).
Liệt hô hấp:
Liệt cơ gian sườn: lồng ngực xẹp khi thở vào, cơ hoành vẫn di động bình thường.
Liệt cơ hoành: vùng thượng vị không phồng lên khi thở vào, cơ ức đòn chũm và cơ thang co kéo.
Liệt màn hầu: mất phản xạ nuốt và ứ đọng đờm dãi, dễ hít phải nước dãi và dịch vị.
Liệt hô hấp thường dẫn đến xẹp phổi (cần chỉ định mở khí quản và thở máy).
Tràn khí màng phổi dễ phát hiện khi mới vào nhưng dễ bỏ HÓI khi bệnh nhân đang thở máy. Hay xảy ra trong quá trình Uuì máy hoặc sau khi đặt catheter dưới đòn.
Viêm phế quản phổi ở vùng sau phổi hay gặp ở bệnh nhân Miiy hô hấp nằm lâu, không dẫn lưu tư thế và thay đổi tư thế.
Khám phổi ở bệnh nhân suy hô hấp cấp cần chú ý tôn trọng nguyên tắc thăm khám cả phía trước lẫn phía sau lồng ngực và tạm thòi thôi thở máy.
Xét nghiệm:
Chụp phổi:
Cần phải làm ngay tại chỗ cho tất cả bệnh nhân suy hô hấp cấp. Tuy nhiên khó có thể chụp điện cho một bệnh nhân thở nhanh, nằm trên giường hoặc một bệnh nhân hôn mê do ngộ độc barbituric đang thở máy. Kinh nghiệm chụp phổi của chúng tôi như sau: cho bệnh nhân thở máy có tăng thông khí oxy 100% hoặc bóp bóng qua mặt nạ trong 20 phút. Độ bão hoà oxy sẽ tăng lên nhanh chóng, nhịp thở sẽ chậm lại hoặc ngừng hẳn trong vài phút. Chụp phổi, ngay cả máy chụp nửa sóng, vẫn có thể thực hiện được.
Xét nghiêm các khí trong máu:
Sa02 (độ bão hoà oxy trong máu động mạch): bình thưòng bằng 95-97%, Sa02 dưói 85% là có tím.
Pa02 (áp lực oxy trong máu động mạch): bình thường ở người tuổi thanh niên là 95-96 mmHg, ở người trên 60 tuổi là 78 mmHg. Trong suy hô hấp cấp, Pa02 giảm xuống dưới 60 mmHg (8kPa).
PaC02 (áp lực C02 trong máu động mạch): bình thường bằng 40 mmHg, có thể tới 99 mmHg (13kPa) trong suy hô hấp cấp hay hơn nữa, PaC02 tăng tror g giảm thông khí phế nang.
Xét nghiệm các khí trong máu cho phép phân loại suy hô hấp cấp ra làm hai nhóm chính.
Nhóm I: giảm oxy máu không có tăng C02 PaC02 giảm xuống dưối 8kPa, Sa02 dưới 80%
PaC02 bình thường, hoặc hạ:
Thường kèm theo: kiềm hô hấp do tăng thông khí phế nang, hay toan chuyển hoá do tăng acid lactic.
Nhóm: giảm thông khí phế nang Pa02 giảm
PaC02 tăng:
Thường kèm theo: toan hô hấp hor :C toan hỗn hợp (phối hợp vối tăng acid lactic máu).
Thí dụ: liệt hô hấp, viêm phế quản phổi tắc nghẽn.
Nhóm 1 chỉ có giảm oxy máu không có nghĩa tiên lượng nhẹ hơn nhóm 2. Trong hội chứng suy hô hấp cấp tiến triển ARDS, oxy chỉ khuếch tán qua vách phế nang ở vùng lành, nên thở oxy với Fj02 = 1 nhiều khi cũng không đưa Pa02 trở lại bình thường.
Chẩn đoán
Chẩn đoán quyết định suy hô hấp cấp thường dễ, đó là một chẩn đoán lâm sàng. Xác định thể loại suy hô hấp câp có thể khó khăn hơn vì phải dựa vào xét nghiệm.
Cách giải quyết hiệu quả nhất là xác định nguyên nhân rồi từ đó tìm ra cơ chế sinh bệnh để quyết định thái độ xử trí. Chẩn đoán phân biệt cũng rất quan trọng để tránh việc xử trí không đúng.
Tăng thông khí (chứ không phải là khí thở) có trong toan chuyển hoá, ngộ độc aspirin, tổn thương thân não. Có trường hợp suy thận đã được mở khí quản.
Nhịp thở Cheyne-Stokes hay gặp trong các trường hợp khác không phải là suy hô hấp như: suy tim, suy thận, tai biến mạch máu não khòng có chỉ định thở máy. Đôi khi gặp trong ngộ độc ôpi (ở đây có chỉ định thở máy).
Xanh tím và khó thở có thể do tràn dịch màng tim gây ép tim, thiếu vitamin Bi (thường mất phản xạ gân xương).
Bệnh não do suy hô hấp cấp có thể nhầm với viêm não có suy hô hấp cấp. Sốt rét ác tính lại thường có biến chứng phổi làm bệnh nặng thêm (thường bị bỏ qua).
Phân chia giai đoạn
Suy hô hấp cấp là một cấp cứu thường gặp nhất, cần phải can thiệp ngay. Trong thực tế, có thể phân chia suy hô hấp cấp m làm 2 loại:
Loại nặng: can thiệp bằng thuốc là chủ yếu, có thể giải quyết được bằng thuốc hoặc một số thủ thuật không đáng kế.
Loại nguy kịch: phải can thiệp ngay bằng các thủ thuật sau đó mối dùng thuốc hoặc phải dùng song song (đặt ống nội khí quản bóp bóng, thỗ máy...).
|
Loại nặng ++ |
Loại nguy kịch +++ | |
|
Xanh tím |
++ |
+++ |
|
Vã mồ hôi |
+ |
+++ |
|
Khó thở |
++ |
+++ |
|
Tăng HA hoặc |
+ |
0 |
|
tụt HA |
0 |
+ (sắp tử vong) |
|
(truy mạch) Rối loạn ý thức |
0 |
+ giãy giụa, lờ đờ ++ hôn mê +++ |
Xử trí
Các biện pháp hồi sức hô hấp cần phải được thực hiện ngay lập tức, càng khẩn trương thì khả năng cứu sống bệnh nhân càng nhiều.
Các thuôc dùng trong hồi sức hô hấp:
Aminophylin (Diaphylin) có tác dụng tốt trong cơn hen phế quản. Thuốc này cần hoà loãng trong 20 ml glucose 30% tiêm chậm tĩnh mạch trong 5 phút. Tiêm nhanh có thể gây cơn nhịp nhanh (trên thất, rung thất). Các thuốc này hiện nay ít dùng và được thay thế bằng các thuốc ipratropium, salbutamol, fenoterol có tác dụng tốt nhất trong viêm phế quản mạn. Thường dùng dạng xịt hay khí dung.
Naloxon, nalorphin có tác dụng trong ngộ độc ôpi có suy hô hấp cấp.
Các corticoid chỉ có tác dụng trong một 80" cấp cứu cơn hen phế quản, phù thanh quản, phù phổi cấp tổn thương, hội chứng
Mendelson. Các dạng xịt, khí dung được dùng rộng rãi hơn trong viêm phế quản mạn đợt cấp có tác dụng trực tiếp, ít gầy tác dụng phụ nhưng kết quả vẫn chậm.
Natribicarbonat không có tác dụng điều chỉnh toan hô hâ'p kéo dài. Truyền nhanh 200ml natri bicarbonat 4,2% kết hợp cho bệnh nhân thở oxy qua ông thông mũi hoặc mặt nạ, bóp bóng là biện pháp chuẩn bị tốt việc đặt nội khí quản cho bệnh nhân đang bị suy hô hấp nặng, tránh tai biến ngừng tim đột ngột.
Adrenalin đặc biệt có tác dụng trong sốc phản vệ có cơn hen phế quản và co thắt thanh môn.
Giá trị của các thuốc chống suy hô hấp: trong hồi sức hô hấp, các thuốc thường có tác dụng nếu được dùng sớm. Nếu bệnh nguy kịch, các thủ thuật phải được tiến hành kịp thòi, thích hợp, có trình tự nhất định.
Khai thông đường dẫn khí:
Là việc đầu tiên phải làm, phải xem xét không những cho các bệnh nhân có suy hô hấp câp mà cho tất cả các bệnh nhân cấp cứu ngay từ giây phút đầu tiên tiếp xúc.
Dẩn lưu tư thế hút dãi qua miệng, đặt canun Guedel hay Mayo là công việc đầu tiên phải làm của người y tá hoặc bác sĩ khi bắt đầu công việc cấp cứu hoặc khám cho một bệnh nhân suy hô hấp cấp nặng. Tất nhiên dẫn lưu tư thế không được dùng cho bệnh nhân phù phổi cấp, tâm phế mạn hoặc liệt cơ hô hấp.
Đặt ống nội khí quản hoặc mở khí quản là các thủ thuật cơ bản nhất để khai thông đường dẫn khí, cho phép:
Hút đờm nhiều lần, tránh được xẹp phổi, y tá cũng làm được, có thể tiến hành thở máy hoặc bóp bóng có hiệu quả bất kỳ lúc nào.
Tránh được tai biến hít phải dịch vị.
Đặt ống nội khí quản mò qua đường mũi không cần đèn soi thanh quản phải là một thủ thuật mà bất kỳ một y tá của khoa hồi sức cấp cứu và bất kỳ một bác sĩ thuộc chuyên khoa nào
cũng phải biết. Thủ thuật đó phải được phổ biến đều cho các tuyến huyện, xã.
Oxy liệu pháp: lượng oxy thay đổi tuỳ theo trưòng hợp:
Lượng ít: 0,5-21/phút qua ông thông mũi trong đợt cấp của viêm phế quản phổi mạn.
Lượng cao: 5-121/phút qua ông thông mũi, mặt nạ hoặc ống nội khí quản (oxy 100%) trong các trường hợp nặng có nguy cơ tử vong tức khắc như phù phổi cấp, tắc đàm, ngạt thở, ngừng tim. Không nên dùng oxy liều cao (trên 70%) quá 48 giờ vì có thể gây ngộ độc oxy làm tổn thương phế nang gây bệnh màng trong, co thắt động mạch và co giật.
Rửa phế quản:
Là một thủ thuật dễ làm và có hiệu quả. Tuy nhiôn cán phải chuẩn bị tốt bệnh nhân (thở oxy 100% ít nhất 20 phứt trước).Bơm qua ống nội khí quản 20-100ml nưốc cất, luồn ông thông mềm, ít ra là hai cỡ (to và nhỏ) hút theo nhiều tư thế. Thỉnh thoảng cho bệnh nhân thở oxy hoặc bóp bóng. Thời gian; không kéo dài quá 5 phút, cần chú ý theo dõi mạch, huyết áp và tình trạng toàn thân. Có thể rửa phế quản nhiều lần trong ngày. Trong cơn hen phế quản ác tính, rửa phế quản qua ông nội khí quản là thủ thuật cơ bản kết hợp với việc thở máy với áp lực đẩy vào cao.
Rửa phế quản kết hợp với vỗ, rung vùng ngực, ho hỗ trợ là các biện pháp tích cực làm cho long dòm.
Các thuốc làm long dòm hoặc khí dung thường ít kết quả, chỉ có tác dụng hỗ trợ nếu đã thông khí nhân tạo.
Thở máy:
Thở máy sau khi đặt ống thông nội khí quản thở máy xâm nhập có chỉ định tức khắc thây một trong các dầu hiệu sau đây ở một bệnh nhân có suy hô hâp cấp:
Sa02 dưối 80%, PaC02 trên 50 mmHg, Pa02 dưới 60mmHg mặc dù đã cho thở oxy mũi hoặc mặt nạ.
Rối loạn ý thức và thần kinh (hội chứng não do suy hô hấp cấp). Tình trạng suy hô hấp cấp không đỡ sau khi đã dùng các biện pháp thông thường.
Thở máy không xâm nhập (CPAP, BIPAP) dùng sớm có thể tránh hoặc thay thế thở máy xâm nhập trong nhiều trường hợp.
A.D lớp YTCC - K4 Y thái bìnhCó thể bạn quan tâm
- Thông tin về Bệnh bại liệt
- Thông tin về Bệnh mạch vành và thiếu máu cơ tim
- Thông tin về Bệnh phổi tắc nghẽn mạn và tâm phế mạn
- Thông tin về Bóp bóng Ambu
- Thông tin về Bóp tim ngoài lồng ngực và thổi ngạt
- Thông tin về các hội chứng lớn trong ngộ độc cấp
- Thông tin về các nguyên lý cơ bản trong hồi sức cấp cứu
- Thông tin về các nguyên tắc và biện pháp xử trí sốc nói chung
- Thông tin về các nguyên tắc xử trí ngộ độc
- Thông tin về các rối loạn calci máu (tăng hạ)
- Thông tin về các rối loạn kali máu
- Thông tin về các rối loạn magnesium máu
- Thông tin về các rối loạn nước và điện giải trong cơ thể
- Thông tin về các rối loạn phospho máu
- Thông tin về cai thở máy
- Thông tin về chẩn đoán sốc
- Thông tin về chẩn đoán và xử trí hôn mê
- Thông tin về chẩn đoán và xử trí tăng áp lực nội sọ
- Thông tin về chọc hút dẫn lưu dịch màng phổi
- Thông tin về chọc hút máu tĩnh mạch đùi
- Thông tin về chọc hút qua màng nhẫn giáp
- Thông tin về chứng porphyri cấp
- Thông tin về cơn cường giáp
- Thông tin về cơn đau thắt ngực không ổn định
- Thông tin về cơn đau thắt ngực kiểu Prinzmetal
- Thông tin về cơn hen phế quản ác tính
- Thông tin về cơn tăng huyết áp
- Thông tin về Đại cương về liệt ngoại vi
- Thông tin về Đặt ống nội khí quản cấp cứu
- Thông tin về Đặt ống nội khí quản đường mũi có đèn soi thanh quản
- Thông tin về Đặt ống nội khí quản mò qua đường mũi
- Thông tin về Đặt ống nội khí quản qua đường miệng có đèn soi thanh quản
- Thông tin về Đặt ống thông Blackemore
- Thông tin về Đặt ống thông màng bụng
- Thông tin về Đặt ống thông rửa dạ dày để cầm máu
- Thông tin về Đặt ống thông tĩnh mạch cảnh trong ở trẻ em
- Thông tin về Đặt ống thông tĩnh mạch cảnh trong theo đường Daily
- Thông tin về Đặt ống thông tĩnh mạch dưới đòn phương pháp chọc Troca qua da
- Thông tin về Đặt ống thông vào động mạch
- Thông tin về Đặt ống thông vào mạch máu bằng phương pháp Desilet
- Thông tin về Điện giật
- Thông tin về hít phải dịch dạ dày
- Thông tin về hội chứng suy đa tạng
- Thông tin về hội chứng suy hô hấp cấp tiến triển (ARDS)
- Thông tin về hội chứng tiêu cơ vân cấp
- Thông tin về hôn mê tăng áp lực thẩm thấu ở người đái tháo đường
- Thông tin về hút dịch khí quản
- Thông tin về Lọc màng bụng thăm dò
- Thông tin về Lọc máu liên tục
- Thông tin về Luồn ống thông vào mạch máu bằng phương pháp Seldinger
- Thông tin về Mở khí quản
- Thông tin về Ngạt nước (đuối nước)
- Thông tin về Ngộ độc Aceton
- Thông tin về Ngộ độc Acid mạnh
- Thông tin về Ngộ độc Asen hữu cơ
- Thông tin về Ngộ độc Asen vô cơ
- Thông tin về Ngộ độc Barbituric
- Thông tin về Ngộ độc Base mạnh
- Thông tin về Ngộ độc cá gây độc Khi sử dụng làm thức ăn
- Thông tin về Ngộ độc cá nóc
- Thông tin về Ngộ độc cá phóng nọc khi tiếp xúc
- Thông tin về Ngộ độc các chất gây Methemoglobin máu
- Thông tin về Ngộ độc các chất gây rối loạn nhịp tim
- Thông tin về Ngộ độc các chất ma túy (opiat)
- Thông tin về Ngộ độc các corticoid
- Thông tin về Ngộ độc các dẫn chất của acid salicylic
- Thông tin về Ngộ độc các dẫn chất của phenothiazin
- Thông tin về Ngộ độc các Digitalic
- Thông tin về Ngộ độc cấp thuốc chuột tầu (ống nước và hạt gạo đỏ)
- Thông tin về Ngộ độc cấp thủy ngân
- Thông tin về Ngộ độc Carbon monoxyt (CO)
- Thông tin về Ngộ độc Carbon sulfua
- Thông tin về Ngộ độc chì và dẫn chất vô cơ của chì
- Thông tin về Ngộ độc Clo hữu cơ
- Thông tin về Ngộ độc Cloroquin
- Thông tin về Ngộ độc cóc
- Thông tin về Ngộ độc cồn Etylic (rượu)
- Thông tin về Ngộ độc cồn Metylic
- Thông tin về Ngộ độc CS (hơi cay)
- Thông tin về Ngộ độc dẫn chất hữu cơ của chì
- Thông tin về Ngộ độc dầu hỏa và các dẫn chất
- Thông tin về Ngộ độc Ecstasy (hồng phiến)
- Thông tin về Ngộ độc INH
- Thông tin về Ngộ độc khí gây kích thích và gây ngạt
- Thông tin về Ngộ độc lá ngón
- Thông tin về Ngộ độc mã tiền (Strycnin)
- Thông tin về Ngộ độc mật cá trắm
- Thông tin về Ngộ độc Meprobamat
- Thông tin về Ngộ độc nấm độc
- Thông tin về Ngộ độc Opi và Morphin
- Thông tin về Ngộ độc Paracetamol
- Thông tin về Ngộ độc Phenol, Cresyl và dẫn chất
- Thông tin về Ngộ độc phospho hữu cơ
- Thông tin về Ngộ độc Phospho vô cơ và Phosphua kẽm
- Thông tin về Ngộ độc phụ tử
- Thông tin về Ngộ độc Quinidin
- Thông tin về Ngộ độc quinin
- Thông tin về Ngộ độc sắn
- Thông tin về Ngộ độc thức ăn
- Thông tin về Ngộ độc thuốc diệt cỏ Paraquat
- Thông tin về Ngộ độc thuốc tím (Kali Pecmanganat)
- Thông tin về Nhồi máu cơ tim
- Thông tin về Nuôi dướng hoàn toàn qua đường tĩnh mạch
- Thông tin về Nuôi dưỡng qua ống thông dạ dày
- Thông tin về Ong đốt
- Thông tin về Phác đồ cấp cứu sốc phản vệ
- Thông tin về Phác đồ xử trí cơn hen phế quản nặng ở người lớn
- Thông tin về Phù phổi cấp huyết động và phù phổi cấp tổn thương
- Thông tin về Quy trình kỹ thuật lọc máu ngắt quãng cấp cứu
- Thông tin về Rắn độc cắn
- Thông tin về Rửa dạ dày trong ngộ độc cấp bằng hệ thống mở
- Thông tin về Rửa màng phổi
- Thông tin về Sâu ban miêu
- Thông tin về Say nắng
- Thông tin về Say nóng
- Thông tin về Sốc do tim
- Thông tin về Sốc giảm thể tích máu
- Thông tin về Sốc nhiễm khuẩn
- Thông tin về Sốc phản vệ
- Thông tin về Sốt rét ác tính (sốt rét nặng có biến chứng)
- Thông tin về Suy thận cấp
- Thông tin về Tai biến chảy máu do dùng thuốc chống đông
- Thông tin về Thăng bằng kiềm toan trong cơ thể
- Thông tin về Thay huyết tương bằng máy
- Thông tin về Thay huyết tương bằng phương pháp thủ công
- Thông tin về Thổi ngạt
- Thông tin về Thôi thở máy
- Thông tin về Thông khí bằng thở tự nhiên với áp lực dương liên tục ở đường dẫn khí (CPAP)
- Thông tin về Thông khí điều khiển với áp lực dương ngắt quãng đồng thì (SIMV or IDV)
- Thông tin về Thông khí nhân tạo bệnh nhân có áp lực dương cuối thì thở ra nội sinh (Autto Peep)
- Thông tin về Thông khí nhân tạo cơ học quy ước (thở máy)
- Thông tin về Thông khí nhân tạo điều khiển với áp lực dương ngắt quãng (IPPV/CMV)
- Thông tin về Thông khí nhân tạo hỗ trợ áp lực (PSV) trong hồi sức cấp cứu
- Thông tin về Thông khí nhân tạo với áp lực dương liên tục (CPPV)
- Thông tin về Thông khí nhân tạo với BIPAP
- Thông tin về Thông khí nhân tạo với thể tích lưu thông (VT) tăng dần
- Thông tin về Thủ thuật Heimlich
- Thông tin về Tiêm xơ điều trị chảy máu ổ loét dạ dày tá tràng
- Thông tin về Toan chuyển hóa
- Thông tin về Tràn khí màng phổi
- Thông tin về viêm nhiều rễ dây thần kinh
- Thông tin về Xử trí cơn cường giáp và thai nghén
- Thông tin về Xử trí sốt rét ác tính ở người có thai